Tập 45. Quán thọ thị khổ – Quán pháp vô ngã
Tiếp theo, Sư Phụ sẽ giảng cho các con nghe về “Quán pháp vô ngã”. Chữ “pháp” ở đây là chỉ pháp giới. Ý nghĩa của “quán pháp vô ngã” chính là trong pháp giới này, đối với bất kỳ sự việc gì, các con đều phải quán chiếu rằng không có sự tồn tại của cái “tôi”. Ví dụ, hiện tại các con nhìn xem trong căn phòng này có "các con" ở trong đó hay không? Khi nhìn thấy nhiều món ăn ngon như vậy, các con có nghĩ đến bản thân mình hay không? Tu tâm chính là phải học cách, đứng giữa vô vàn dục vọng, thời gian lâu dần, có phải các con sẽ thấy không còn cái 'tôi' của mình nữa hay không. Đạo lý ở đây chính là muốn nói cho các con biết: Phải quên đi bản ngã, mới có thể tìm thấy chân ngã thực sự. Lấy một ví dụ đơn giản: Có hai đứa trẻ đang đánh nhau, cha mẹ chúng đi tới. Nếu cha mẹ tin rằng con mình là đứa trẻ ngoan, nhất định sẽ không cãi vã hay đánh nhau, thì họ sẽ mặc định con mình không bao giờ nằm trong số những đứa trẻ đang đánh nhau đó, vì vậy họ sẽ không đi vào đám đông đang đánh nhau ấy để tìm con mình. Chúng ta sống trong pháp giới này, nếu chúng ta không cho rằng mình sẽ trở thành nạn nhân của pháp giới, thì chúng ta sẽ có thể siêu thoát khỏi pháp giới. Chúng ta không cho rằng mình sẽ cãi vã hay đánh nhau với người khác, cho nên chúng ta mãi mãi tách rời khỏi đám đông đang đánh nhau ấy; chúng ta cho rằng mình là người tốt, thì sẽ không nghĩ rằng mình nằm trong nhóm người xấu; nếu các con cho rằng mình là người xấu, thì trong đám người tốt các con sẽ không thể tìm thấy chính mình. Ngày hôm nay trong pháp giới này, mỗi một người đều đang bị tham, sân, si chi phối; mỗi một người đều đang sống trong dục vọng. Các con có bằng lòng tìm thấy chính mình trong một pháp giới như thế hay không? Pháp giới hiện nay có rất nhiều người xấu ở trong đó, các con có cam tâm tìm thấy chính mình giữa đám người xấu đó không? Cho nên phải nhìn thấy rằng, trong pháp giới này là vô ngã — tức là không có chính bản thân các con. Các con có hiểu không? Bởi vì khi các con quán pháp vô ngã, là các con đã thoát khỏi cõi người. Trong pháp giới không còn nhìn thấy các con nữa, chẳng phải cảnh giới của các con đã được nâng cao rồi sao? Chẳng phải các con đã đạt đến cảnh giới của chư Phật và Bồ Tát rồi sao? Bởi vì chỉ khi vượt khỏi cảnh giới của con người, các con mới có thể tiến gần đến cảnh giới của chư Phật và Bồ Tát. Có như vậy, các con mới có thể bước vào thế giới quang minh.
Các con không thể tưởng tượng được trên trời sáng rực rỡ và hạnh phúc đến nhường nào đâu, giống như đôi khi tình cờ có một ngày thời tiết tuyệt đẹp, các con cũng sẽ cảm thấy vô cùng vui vẻ. Thế giới quang minh là gì? Nơi chư Bồ Tát an trụ chính là thế giới quang minh. Nơi con người chúng ta đang sống hiện nay là nơi có tối có sáng. Có tối có sáng cũng giống như linh hồn của chúng ta lúc tốt lúc xấu, tựa như vầng trăng có lúc tròn lúc khuyết. Vì vậy, chúng ta phải đến thế giới quang minh, chúng ta phải đến thế giới Tây Phương Cực Lạc hoặc Tứ Thánh Đạo. Nhưng nếu chúng ta đã đi lên đó rồi, thì ngay cả “con thuyền” đưa chúng ta đi lên cũng phải bỏ lại, tức là ngay cả ý niệm muốn thành Phật cũng đều phải buông xả. Các con đã từng thấy vệ tinh được phóng lên trời chưa? Bên dưới vệ tinh có một hệ thống tên lửa đẩy, sau khi đưa vệ tinh lên không trung thì bộ phận trợ lực đó sẽ tách rời và có thể vứt bỏ đi. Con người chúng ta muốn lên trời, nương tựa vào điều gì? Chính là nương vào pháp môn này. Nhưng sau khi chúng ta lên trời rồi, chúng ta cũng phải quên đi pháp môn này. Thế nhưng, rất nhiều người đến tận bây giờ vẫn còn chấp chặt lấy pháp môn. Pháp môn là một phương tiện giúp các con đạt được mục đích đi đến thành công. Giống như khi làm phẫu thuật cho con thì phải dùng dao mổ, sau khi dùng dao mổ chữa khỏi bệnh cho con rồi, con có còn buộc con dao mổ đó lên người mình nữa không? Hôm nay dùng kim để khâu vết thương cho con, sau khi khâu xong con có còn găm cây kim đó trên người mình không? Nó chỉ là một phương pháp mà thôi. Pháp môn này là một cánh cửa. Cánh cửa này, con bước vào rồi thì nó không còn tác dụng nữa. Nghe có hiểu không? Giống như con rất yêu cánh cửa này, nhưng sau khi dùng xong, cánh cửa này đối với con đã không còn ý nghĩa nữa. Các con hiểu chưa? Vì vậy, không được chấp trước vào bất kỳ một pháp môn nào.
Phải đoạn tình. Phải cắt đứt toàn bộ tình cảm thế gian của bản thân. Có khó không? Khó. Khó cũng phải đoạn. Nếu duyên phận ở nhân gian đã cạn, các con phải coi nhau như những người xa lạ thì mới có thể tu tốt được. Có như vậy, khi người bạn đời qua đời, con mới không vì quá đau khổ mà chết theo; nếu tình chấp này con không đoạn, đợi khi một người ra đi, xin lỗi nhé, người còn lại cũng lập tức đi theo. Nếu con nói không sao cả, hai người cùng đi, nhưng thử hỏi liệu ai thực sự bằng lòng bồi táng cùng nhau đây? Đạo lý chính là ở chỗ này. Vì vậy, phải đoạn sinh mệnh. Nghĩa là gì? Không phải bảo các con bây giờ từ bỏ mạng sống, mà là muốn các con phải nhìn thấu được bản chất của sinh mệnh. Phải đoạn danh lợi, những việc mang lại danh lợi nhất định phải buông bỏ. “Chao ôi, hôm nay trên báo không đăng ảnh của mình rồi”, “Hôm nay tên của mình không được đặt ở phía trước, lại bị đẩy ra phía sau rồi” — Loại người như vậy gọi là kẻ ham danh. Không tốt. Về chữ lợi, nhìn thấy tiền là: “Trời ơi, không được rồi, số tiền này đến tay tôi, tôi không nỡ bỏ. Đã vào túi rồi mà bảo tôi móc ra, còn khó chịu hơn cả cái chết.” Đó có thật sự là tiền của con không?
Cuối cùng ngay cả “con thuyền” cũng phải bỏ lại, nghĩa là Sư Phụ dùng pháp môn này để giúp đỡ các con, khi các con dương thọ đã tận, đợi đến ngày thân xác này của các con ra đi, các con cũng phải buông bỏ pháp môn này thì mới có thể thực sự đi đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Đạo lý là như vậy. Vì vậy, người tự do chân chính phải học cách giữ lại chân tâm chân ý của chính mình. Mặc dù chúng ta không nỡ rời bỏ pháp môn, nhưng nếu không nỡ buông bỏ danh, lợi, pháp xung quanh mình, thứ gì cũng không nỡ vứt bỏ, thì cuối cùng chúng ta sẽ bị chính những thứ này trói buộc, và trở thành vật phụ thuộc của pháp môn. Nghĩa là gì? Chính là rất nhiều người học Phật, càng học về sau càng tệ, càng học càng hồ đồ, ngược lại còn bị pháp môn trói chặt, cũng không biết cái gì mới là pháp chân chính. Pháp chân chính là gì? Là tâm pháp, là bản pháp. Vì vậy tu hành tuyệt đối không được chấp trước.
Tiếp theo, Sư Phụ giảng cho các con về “Quán thọ thị khổ”. Các con phải thường xuyên “quán”, tức là thường xuyên nhìn thấu rằng những gì các con gánh chịu đều là đau khổ. Lấy một ví dụ đơn giản: Hôm nay các con được ăn đồ ngon, lúc ăn rất vui, ăn rồi lại còn muốn ăn tiếp — hưởng thụ xong, tiếp theo sẽ chuốc lấy cái khổ — ăn quá nhiều khiến đường ruột dạ dày khó chịu. Lại ví dụ như một cặp tình nhân đang rất hạnh phúc, lúc trò chuyện với nhau rất vui vẻ, tâm sự một hồi lại thấy không vui nữa, chẳng phải là đang chịu khổ sao? Đây gọi là quán thọ thị khổ. Tất cả những gì các con tiếp nhận, bao gồm cả những thứ mắt thấy và cảm nhận được, trên thực tế đều là đau khổ. Nếu các con không tin, hãy nghĩ đến vài việc mà bản thân cho là vui vẻ xem. Ví dụ, các con đánh bóng bàn có vui không? Đợi sau khi đánh xong, ngày hôm sau tay cũng không nhấc lên nổi nữa. Có đúng không nào? Các con đi du lịch có vui không? Ngồi xe đường dài mấy tiếng đồng hồ, ngồi đến mức chân cẳng sưng phù cả lên, chẳng phải là khổ sao? Bồ Tát dạy các con quán, chính là muốn các con nhìn thấy tất cả những gì mình gánh chịu đều là khổ, bề ngoài nhìn có vẻ ngọt ngào, nhưng cũng giống như uống thuốc vậy, bên ngoài được bọc một lớp đường, còn bên trong toàn là vị đắng. Có loại thuốc nào thật sự ngọt đâu?
Vì vậy, sinh, lão, bệnh, tử; các loại đau khổ; Ái biệt ly khổ; Oán tắng hội khổ; Cầu bất đắc khổ; Ngũ uẩn xí thạnh khổ, thiên tai nhân họa… Nỗi khổ của thế gian kể sao cho xiết! Ái biệt ly khổ biết là gì không? Yêu thương con cái vô cùng, cuối cùng con cái lại phải rời xa con. Đúng không? Rõ ràng yêu thương, không muốn rời xa, nhưng vẫn phải chia cách — đó là Ái biệt ly khổ, đây là một loại khổ. Người mình yêu thương đến thế, người mình thích đến thế, lại đành lòng phải nói câu “tạm biệt”. Hai vợ chồng già rất mực yêu thương nhau, rồi cũng đến một ngày người kia phải ra đi, đau khổ vạn phần, muốn giữ cũng không giữ được. Khi một người không còn yêu một người nữa, dù con có cầu xin, nói lời ngon tiếng ngọt thế nào, người ta cũng không thèm để ý đến con, lúc đó con đau khổ biết nhường nào. Người mẹ nói: “Con à, mẹ yêu con, con đừng lấy chồng xa như vậy, con tìm một người ở ngay bên cạnh mẹ tốt biết mấy, mẹ chỉ có mỗi mình con thôi.” “Con nhất định phải gả cho anh ấy!” Người mẹ rơi nước mắt tiễn con đi — đây là Ái biệt ly khổ. Oán tắng hội khổ, oán tắng là gì? Là oan kết, hận người ta. Chính là người mình không muốn nhìn mặt thì ngày nào cũng phải đụng mặt, người muốn gặp lại không thể gặp. Đúng không? Ngày nào cũng phải nhìn thấy kẻ mình chướng mắt, đó gọi là oán tắng hội. Cầu bất đắc khổ, còn cần Sư phụ phải giải thích nữa không? Muốn sinh con nhưng sinh không được; muốn lấy chồng nhưng không ai rước; muốn có tiền lại chẳng có tiền… Cái gì cũng mong cầu mà không được. Muốn giữ mạng lại mất mạng, muốn có một chiếc ô tô xịn nhưng không có tiền… Thứ gì cũng cầu không được, có khổ không? Đó gọi là cầu bất đắc khổ. Ngoài ra, “Ngũ uẩn xí thạnh khổ” là gì? “Ngũ uẩn” mọi người đều biết, là “sắc, thọ, tưởng, hành, thức”, tương ứng với “ngũ hành” là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ uẩn xí thạnh khổ nghĩa là âm dương ngũ hành trong cơ thể con không điều hòa. Ví dụ hôm nay con thiếu thủy, thận của con sẽ không tốt; con thiếu kim, tim của con sẽ không tốt; con thiếu mộc, xương cốt của con sẽ không tốt; con thiếu hỏa, âm khí quá nặng sẽ khiến thắt lưng đau mỏi, nhức nhối. Các con nên biết “kim, mộc, thủy, hỏa, thổ” đều có liên quan mật thiết đến cơ thể con người. Vì vậy Bồ Tát mới dạy các con giống như chụp X-quang, phải “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” — tức là soi rọi cho tất cả đều trống rỗng, thủy cũng soi bỏ, mộc cũng soi bỏ… Tức là soi rọi để bản thân con hoàn toàn trống không. Mọi người nghe có hiểu không? Đôi khi con người thiếu dương, thiếu âm, đều là do những thứ này chưa được chuyển hóa tốt.
Vì vậy Sư Phụ nhắc nhở các con, một người thật sự ngộ đạo, một người thật sự muốn khai ngộ, chính là mấy câu Sư Phụ đã giảng cho các con trước đây:
Thứ nhất, phải Quán thân bất tịnh, biết rằng bản thân mình vốn dĩ không sạch sẽ thì mới có thể tu sửa bản thân cho tốt.
Thứ hai, phải Quán thọ thị khổ, phải biết rằng tất cả những điều mình phải trải qua đều là khổ nạn.
Thứ ba, phải Quán tâm vô thường, phải biết cái tâm này không bao giờ là mãi mãi.
Thứ tư, phải Quán pháp vô ngã, phải biết rằng trên thế gian này tất cả mọi thứ đều không có sự tồn tại của cái “tôi”.
Chính vì con nhìn thấu thế giới này là không, thế giới này không còn có con nữa, nên con sẽ không tức giận; không còn cái “tôi” thì sẽ không còn phiền não. Không còn bản thân mình nữa, thì còn gì để mà tranh, mà giành, mà cướp đoạt nữa — đó chính là quán không, là trống rỗng. Nhìn nhận bản thân đều là không, mình nhìn mọi sự việc cũng đều là không. Ví dụ hôm nay người ta cướp món đồ này của con, lừa của con một chút tiền — là không, qua vài ngày họ tiêu hết thì cũng hết; thời gian đó trôi qua rất nhanh là sẽ biến mất. Ví dụ hôm nay con làm ăn, người ta trả thiếu cho con một chút tiền, lúc đó con tức giận vô cùng, còn nói: "Rõ ràng hôm nay tôi đã thỏa thuận với họ xong rồi, người ta lại thế này thế nọ, rõ ràng là…". Con tức giận vô cùng, nhưng thực tế cũng chỉ là chuyện vài chục đồng bạc. Một tuần sau con nghĩ lại chuyện này, con sẽ không còn thấy đau khổ nữa. Phải quán bản thân thanh tịnh, đừng đi tranh giành một chút xíu lợi lộc, món lợi nhỏ họ lấy được chỉ là tạm thời, không thể tồn tại vĩnh viễn, đối với con mà nói cũng chỉ là chuyện chốc lát rồi qua, cớ sao phải đi chấp trước? Vì vậy phải quán không. Tức là nhìn thế giới này đều là không, hiểu chưa? Có lúc chỉ vì một chút danh lợi mà giành qua giật lại, một lúc sau cũng tan thành mây khói, có ý nghĩa gì chứ? Tất cả đều là không.