Tập 38. Luận về “Ngũ uẩn giai không”
Quả thứ ba gọi là “Lục nhập”. Khi một đứa trẻ vừa mới sinh ra, tai chưa nghe được, mắt chưa nhìn thấy, mũi chưa ngửi được mùi vị; đây chính là "Danh sắc" mà Sư Phụ vừa giảng cho các con. Tiếp theo, khi đứa trẻ dần lớn lên, sáu căn gồm: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý bắt đầu đi vào trong ý thức của nó. Khi sáu căn đã hình thành, tai nghe được, mắt nhìn thấy, đứa trẻ bắt đầu biết khóc. Vì sao? Bởi vì nhìn thấy nên khóc, nghe thấy nên khóc, nghĩ đến liền cảm thấy sợ hãi.
Quả thứ tư là “Xúc”, tức là sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài sau khi ra đời. Một người sau khi ra khỏi bụng mẹ thì ngay lập tức tiếp xúc với xã hội. Khổ không? Các con xem có đứa trẻ nào sinh ra mà không khóc không? Suốt ngày “oa oa oa” khóc. Trời lạnh hay trời nóng đều thấy khó chịu, hễ tiếp xúc với ngoại cảnh thì con người liền cảm thấy không thoải mái.
Hiện nay, nhiều người học Phật chúng ta, nếu ở lâu trong môi trường thanh tịnh như Đài Phát thanh Đông Phương, khi bảo họ ra ngoài giao tiếp với người đời, họ sẽ cảm thấy không tự nhiên. Vì vậy, các con phải chuẩn bị tâm lý tư tưởng: Khi đã trở thành đệ tử Phật, cảnh giới tu hành của các con càng ngày càng cao, thì nhìn người thế gian sẽ càng thấy không thoải mái, cảm thấy lời nói và hành động của họ đều không được đúng lý đúng pháp. Phải nhớ rằng, họ không phải là người học Phật, chúng ta chỉ có thể tha thứ cho họ mà thôi.
Quả tiếp theo là “Thọ” (cảm thọ), tức là sự khổ và vui nảy sinh do tiếp xúc với ngoại cảnh – đó chính là cảm nhận. Đây là năm quả hiện tại trong hệ thống “Tam thế nhân quả”(Nhân Quả ba đời). Trong tam thế nhân quả của hiện tại có ba nhân,
Nhân thứ nhất chính là “Ái”. Con người sống ở nhân gian, tình ái là điều đau khổ nhất: yêu một người cũng khổ, mà được người khác yêu cũng lại là khổ. Đối với môi trường và hoàn cảnh xung quanh mà nảy sinh ái dục, ham muốn, tức là đã có cảm giác của "Ái".
Ví dụ đơn giản: Đối với một sự vật các con còn có thể sinh lòng yêu thích, huống chi là đối với một con người? Những ai chưa từng nuôi chó thường rất sợ chúng, nhưng Sư Phụ nói cho các con biết, một khi con nuôi một chú chó trong nhà, con sẽ dần dần thích nó và nảy sinh tình cảm với nó. Chẳng cứ gì loài chó, ngay cả loài gà cũng như vậy. Phải hiểu rằng, việc con thích ngôi nhà này chính là cái “Ái” đối với môi trường hoàn cảnh. Vì kiểu dáng đẹp nên tôi thích ngôi nhà này, thích đồ nội thất này, đó đều là Ái. Tôi rất thích một người, liền nảy sinh ra Ái. Tôi cảm thấy nói chuyện với người này rất hợp, cũng nảy sinh ra Ái.
Tiếp theo là “Thủ” (chấp thủ). Thủ chính là sự theo đuổi, truy cầu; theo đuổi tức là Thủ, và sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp. Khi con theo đuổi một sự việc nào đó, muốn tìm cách sở hữu nó, thì dần dần con sẽ trở thành nô lệ của nó, từ đó sinh ra nghiệp chướng. Nghiệp chướng bao gồm thiện nghiệp và ác nghiệp.
Hôm nay tôi muốn làm việc này, chỉ cần tôi khởi tâm theo đuổi nó thì đã tạo nghiệp rồi. Nếu hôm nay con làm việc thiện, đó gọi là thiện nghiệp; nếu hôm nay con làm việc ác, đó gọi là ác nghiệp.
Còn một nhân nữa gọi là “Hữu”. “Hữu” nghĩa là gì? Như vừa rồi đã nói, khi nghiệp đã hình thành, do chiêu cảm quả báo, con đã thực hiện hành động đó rồi và đã nhận được sự đáp trả (báo ứng). Nghĩa là con đã đạt được nó, đã sở hữu nó, từ đó con đã có quả báo. Đây chính là năm quả và ba nhân của hiện tại, cộng với hai quả của vị lai, tổng cộng lại chính là Mười Hai Nhân Duyên.
Quả đầu tiên của vị lai chính là “Sanh”. Con lại tiếp tục thọ nhận nỗi khổ não của thân ngũ uẩn trong tương lai, khiến các con không ngừng chịu cái khổ của Ngũ Uẩn. Nghĩa là, sau khi con người chết đi, tưởng rằng không còn gieo nhân nữa, nhưng rồi lại tái sinh đầu thai, lại tiếp tục chịu khổ não của Ngũ Uẩn.
Ngũ Uẩn là gì? Chính là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sư Phụ hỏi các con: Vì sao Bồ Tát nói Ngũ Uẩn rất khổ? Bởi vì những cảm thọ, suy nghĩ của các con ở nhân gian, cùng với thân xác (sắc thân), hành vi và ý thức của các con – năm uẩn này thực chất đều là “Không”. Tuy là “Không”, nhưng lại khiến nội tâm các con đau khổ, cho nên Bồ Tát dạy chúng ta ngay cả Ngũ Uẩn cũng không nên để tồn tại trong tâm. Trong “Tâm Kinh”, Đức Phật đã dạy: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, chính là dạy các con đừng nên suy tính, đừng để vướng mắc vào Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
Vì sao Sư Phụ dạy các con đừng suy nghĩ? Bởi vì hễ khởi tâm động niệm, con sẽ cảm thấy mình sống ở nhân gian này rất khổ. Nghĩ đến thì không dám nhìn người khác; nghĩ quá nhiều, nghe quá nhiều, thọ nhận quá nhiều, ý thức của con thậm chí có thể phạm tội (tạo nghiệp trong ý thức). Vì vậy, phải “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức là đừng vướng mắc suy nghĩ, bởi vì tất cả những thứ đó đều là "Không".
Sư Phụ hỏi các con: "Sắc" có phải là "Không" không? Nhìn thấy thế giới sắc tướng rực rỡ, hoa cỏ nhà cửa đẹp đẽ, nhưng nhìn qua rồi cũng là hết, chẳng còn lại gì.
"Thọ" – cảm thọ: Khi đói bụng thì cảm thấy rất đói, nhưng khi ăn no rồi, cảm giác đói đó lập tức tan biến.
"Tưởng" – suy nghĩ: Khi con đau khổ, càng nghĩ lại càng khổ, càng khổ lại càng nghĩ. Những chuyện đau khổ từ thời thơ ấu, đến giờ nghĩ lại liệu còn tồn tại không?
Bồ Tát dạy chúng ta phải quán chiếu tâm mình để thấy "Ngũ uẩn giai không", phải để cho chúng không lọt vào trong tâm (không chấp giữ).
"Hành" – hành vi của con làm hôm nay, đã làm xong rồi thì còn không?
"Thức" – ý thức, những ý niệm con đã nghĩ qua rồi, liệu còn không?
Quả cuối cùng của vị lai chính là “Lão tử”. Bởi vì sanh và tử vốn luôn gắn liền với nhau: sinh ra rồi, dần dần già đi, cuối cùng sẽ chết, rồi lại tái sinh. Cho nên trong Thập nhị nhân duyên, hai quả của vị lai chính là Sanh và Tử.
Người đời thường nói “sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh”. Khi con vừa được sinh ra, cũng chính là lúc bắt đầu chuẩn bị cho cái chết; và khi con sắp chết đi, con lại đang chuẩn bị để đầu thai, để lại được tái sinh. Vì vậy, cái thân trong vị lai sẽ dần dần già đi, rồi lại chết đi – đó chính là nhân duyên quả báo.
(Trong quá trình Con dịch và chia sẻ, nếu có gì chưa đúng lý, đúng pháp ,Cúi xin Chư Phật, Bồ tát, Long thiên hộ pháp, Sư phụ từ bi tha thứ cho Con )