Tập 10. Tự tánh vô ngại, vô quái ngại cố 

Học Phật thật sự không hề dễ dàng. Học Phật là việc của cả bên ngoài lẫn nội tâm, bao gồm cả những thứ biểu hiện ra bên ngoài và những giá trị cốt lõi bên trong. Nếu bề ngoài học Phật trông có vẻ rất tốt, nhưng nội tâm lại không triệt để thay đổi quan niệm của mình, không vận dụng Phật pháp vào chính cuộc sống của bản thân, thì chắc chắn không thể học Phật tốt được. Hôm nay, Sư Phụ muốn giảng sâu hơn một chút cho mọi người nghe, hy vọng các con biết vận dụng tư duy cho thật tốt. Từ hôm nay trở đi, Sư Phụ sẽ giảng sâu hơn, xin mọi người hãy chú ý lắng nghe. 

Học Phật phải tu cả bên trong lẫn bên ngoài. Tu cả nội lẫn ngoại thì mới đạt đến “minh tâm kiến tánh”. Thực ra, minh tâm kiến tánh thuộc về tu nội. Tu nội là gì? Chính là khi tâm đã sáng tỏ, thấy được bản tánh của mình. Đó chẳng phải là nội sao? Hôm nay các con nghĩ thông suốt, đó là tâm các con đã thông suốt; hôm nay các con có tâm Phật, tức là bản tánh đã hiển lộ. Được như vậy, lương tâm và bản tánh của người đó sẽ hợp lại làm một, khi ấy nội tại của người đó mới được coi là tu tốt. Nhiều người nói rằng, chỉ cần tu tâm là đủ rồi. Các con hãy thử nghĩ xem, tâm có dễ tu tốt được không? Tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm đố kỵ… tất cả những cái tâm ấy đều là sự biến động phát sinh dựa trên ý niệm của các con. Nói cách khác, khi ý niệm của các con có sự đố kỵ với người khác, tâm của các con sẽ nảy sinh sự đố kỵ. Khi ý niệm của các con không thuần khiết, tâm của các con cũng sẽ không thuần khiết. Thực tế, tâm giống như một bộ chỉ huy, nghe theo sự sai khiến, hiệu lệnh của ngoại cảnh mà tùy ý xoay chuyển ý niệm của bản thân . Khi các con thấy người ta từ bi, các con cảm thấy thương xót, lúc đó tâm các con sẽ chuyển thành tâm từ bi; khi các con thấy người ta đố kỵ, lúc đó tâm các con cũng sẽ chuyển thành tâm đố kỵ; khi các con nhìn thấy người này và sinh lòng oán hận họ, lúc đó tâm các con sẽ nảy sinh tâm sân hận. Tất cả những điều này đều thuộc về bên trong. Cho nên, tu tập nội tại khó hơn tu tập ngoại tại rất nhiều. 

Trong tâm phải có ánh sáng, phải thanh tịnh, phải vô vi. Nghĩa là gì? Trong tâm phải có ánh sáng – ánh sáng chính là sự quang minh. Người nghĩ không thông thì trong tâm không có ánh sáng; người suốt ngày phiền não thì trong tâm không thanh tịnh; người luôn cho rằng mình rất giỏi giang, thì kết cục của người đó cũng là vô vi. Vô vi là gì? Là không có hành vi tạo tác, không mưu cầu sở hữu, tuy nhìn là vô vi nhưng lại hữu nhi vô bất vi, đến cuối cùng đạt đến cảnh giới "vô vô vi" – tức là người này không còn chấp ngã vào bất cứ điều gì, đơn giản là như vậy. Thế nên, khi các con không có gì, các con sẽ thanh tịnh; khi các con nghĩ mình có thành tựu, tâm các con sẽ không thanh tịnh nữa. Các con cho rằng hôm nay mình nhất định phải làm một việc lớn lao, tâm các con đã mất đi sự thanh tịnh rồi. Cho nên, con người phải biết nhìn nhận bản thân: "Ta chẳng có thành tựu gì đáng kể, ta tính là gì cơ chứ?". Các con cũng vậy, hãy nghĩ xem mình là ai? Một người nếu trong tâm có ánh sáng, có sự thanh tịnh, có vô vi, thì người đó mới có thể thấu hiểu được bản tánh của mình, bởi vì bản tánh của con người vốn dĩ là vô vi. Có gì là ghê gớm đâu? Con người có gì là ghê gớm? Các con thấy mình tài giỏi, nhưng cuối cùng cũng chỉ là một đống xương trắng mà thôi. Cho nên, các con phải thường xuyên nghĩ đến ánh sáng quang minh của Bồ Tát, giữ cho tâm thanh tịnh, tự nhủ: "Bản thân ta chẳng có thành tựu gì to tát, ta chỉ cần tinh tấn học Phật tu tâm cho tốt". Làm được vậy, các con đã tiếp xúc được với bản tánh của mình rồi. Người kiêu ngạo thì không thể học Phật tốt; người cho rằng mình giỏi, nhiều mưu mẹo khôn lỏi, cũng không thể học Phật tốt. Học Phật cần phải thành thành thật thật, chân thật tu hành , đừng nghĩ rằng mình ở đâu cũng có mưu mẹo, dùng sự thông minh vụn vặt, người như vậy là không hiểu Phật pháp. Chỉ khi thấu hiểu triệt chúng ta phải dùng trí tuệ của Phật Bồ Tát để giải quyết mọi sự của nhân gian, chứ không phải dựa vào sự thông minh vụn vặt, hiểu được điều này thì người đó mới thật sự là người sáng suốt. 

Vậy nên, rất nhiều người sẽ không phân biệt rõ thế nào là “tiểu thông minh” và thế nào là “đại thông minh”? Tiểu thông minh hay đại thông minh thì đều gọi là thông minh, nhưng thông minh không đồng nghĩa với có trí tuệ. Sư phụ nhiều lần nhắc nhở các con: thông minh chính là có thể giải quyết một số vấn đề, nhưng lại tự cho rằng mình chỉ cần liếc mắt một cái, nói dối một câu, khoác lác một chút là người ta không hay biết lời mình nói; tưởng rằng việc mình làm, chỉ cần mình không nói ra thì chẳng ai hay biết, đó gọi là tiểu thông minh; chiếm phần lợi của người khác, đó cũng gọi là tiểu thông minh. Người thực sự thông minh phải là người có trí tuệ, là người có thể hiểu rõ đạo lý sự việc ở đời. Vì vậy, học Phật phải hiểu được Phật pháp chân chính. Các con học đến ngày hôm nay, các con đã hiểu Phật pháp chân chính là gì chưa? Phật pháp chân chính chỉ có những người có căn khí đại trí mới có thể thấu hiểu được. Thế nào gọi là căn khí đại trí, các con có hiểu không? Chính là những người tiền kiếp đã tu tập rất tốt, kiếp này ở nhân gian sở hữu đại trí tuệ và là người dũng cảm xả bỏ, đó gọi là căn khí đại trí. Nói cách khác, tiền kiếp đã tu rất tốt rồi, sau đó kiếp này lại gặp được Phật pháp, là người có đại trí tuệ, đó mới gọi là căn khí đại trí để hiểu được những Phật pháp này. Lấy một ví dụ đơn giản, các con ngồi đây ngày hôm nay nghe Sư phụ giảng giải Phật pháp, thực tế các con đã sở hữu căn khí đại trí rồi. Nhưng đừng quên, đó mới chỉ là căn khí đại trí ở một bộ phận mà thôi. Bởi vì các con biết rằng, các con ngồi ở nơi này có thể học hỏi được rất nhiều điều, các con có thể thấu hiểu được rất nhiều Phật pháp và tư duy của Bồ Tát, cũng như tư tưởng triết học của Ngài. Do đó, các con có thể ngồi ở đây, có thể thụ hưởng trí tuệ và lòng từ bi của Bồ Tát để thay đổi chính mình, thì thực sự các con đã thuộc về những người có căn khí đại trí rồi. 

Còn rất nhiều người, học được một thời gian thì không học tiếp được nữa, cảm thấy không còn gì để học, thấy mình đã tốt rồi nên không muốn học nữa; tất cả những điều này đều cho thấy người đó chỉ học được Phật pháp nông cạn, mà không thể học được Phật pháp chân chính. Phật pháp chân chính là các con có thể đi sâu vào trong Phật pháp, để thấu hiểu những lý luận thâm sâu và sự chỉ dẫn, thực hành của nó đối với nhân gian. Vì vậy, Sư phụ nói với mọi người rằng, Phật pháp chân chính chính là “Pháp hữu vi”. “Pháp hữu vi” là gì? Như vừa nói với các con, con người chúng ta đừng cho rằng mình có tài cán gì, là “vô vi”, vậy thì tại sao lại nói là Pháp hữu vi? Mọi người hãy suy nghĩ xem, chính vì các con không cho rằng mình có tài cán gì, thấy mình chẳng là gì cả, thì các con mới thực sự làm nên chuyện. Các con không tự nâng mình lên quá cao, thì thực tế các con lại ở vị trí cao. Nếu các con tự đề cao mình, mọi người sẽ coi nhẹ các con, không xem các con ra gì, thực tế các con không hề thăng hoa lên cao được. Còn khi các con đặt mình ở vị trí thấp, nhưng thực tế các con lại không ngừng hành trì, học hỏi, nỗ lực, học Phật, độ nhân, độ chúng sanh, thì khi đó các con thực sự đang thực hành Pháp hữu vi.

Hãy nghĩ xem, ở trong công ty, dù con có tự thổi phồng mình lên cao đến đâu, ông chủ cũng có thể lập tức thay thế con. Nếu con nói: “Tôi không sao cả”, rồi cứ thế âm thầm lặng lẽ mà làm, thì thử hỏi trong công ty đó, con có vị trí hay không? Có chứ! Trong gia đình, khi hai vợ chồng cãi nhau, cãi đến cuối cùng, người chồng nói với vợ: “Cô có gì giỏi giang đâu? Chẳng phải chỉ là rửa bát, nấu cơm, trông con thôi sao?”. Xin hỏi người chồng, anh hãy nghĩ xem, anh có trông con được không? Anh biết nấu cơm không? Người vợ lại nói: “Anh có gì ghê gớm đâu, chẳng phải cũng chỉ đến cơ quan đi làm đó sao?”. Thế cô vợ có đi làm thay anh chồng được không? Tất cả những điều này đều vì mỗi người tự cho mình là quá tài giỏi, nghĩ rằng mình “hữu vi”- có tài cán, cho nên con mới trở thành “vô vi”. Ngược lại, khi con cảm thấy mình chẳng có tài cán gì, con mới thực sự trở thành người “hữu vi”. Nếu một người hiểu được Pháp hữu vi, thực tế người đó đã là người bắt đầu “kiến tánh” – tức là thấy được bản tánh rồi. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay con đi độ một người, đó chính là con đang dùng Pháp hữu vi. Bởi vì con có năng lực này, có sự hành trì tạo tác này, con có thể đi cứu người ta, thì con chính là người kiến tánh. Con không nói ra, người ta cũng không coi nhẹ con; con nói ra rồi, người ta cũng chưa chắc đã đánh giá cao con. Cho nên, người thực sự có thể kiến tánh thì phải đạt được “Tự tánh vô phi” – nghĩa là tự mình nhận thức thế gian này không còn thị phi đúng sai nữa; phải “Tự tâm vô ngại” – nghĩa là tâm mình không còn chướng ngại; phải “Tự tâm vô loạn” – nghĩa là tâm mình từ trước đến nay chưa từng loạn. Bản tánh của con đối với tất cả mọi vấn đề trên thế gian đều không có thị phi đúng sai; bản tánh muốn làm gì, con hãy cứ để nó làm đó, vì bản tánh vốn thiện lương, những việc nó làm ra đều tốt đẹp, cho nên, tuyệt đối không được có chướng ngại. 

Lấy một ví dụ: "Tôi muốn đi giúp đỡ một người, thế nhưng, trong lòng lại có chướng ngại, có tâm ích kỷ". Con liền suy nghĩ: “Mình có nên đi giúp người này không? Giúp họ thì có lợi ích gì cho mình không?”. Đây gọi là “Hữu ngại” – tức là có chướng ngại rồi. Bản tánh ban đầu của con vốn rất tốt đẹp, con hoàn toàn có thể giúp đỡ người khác một cách vô ngại. Nhưng bởi vì trong lòng con có chướng ngại, con cảm thấy làm vậy là không đáng, thì khi đó gọi là “Tự tánh hữu ngại ”, rồi từ đó sẽ dẫn đến “Tự tánh hữu loạn ”. Tự tánh hữu loạn  là gì? Bởi vì con có trở ngại, con không quyết định được, việc này rốt cuộc mình có nên làm hay không? Nghĩ tới nghĩ lui, chẳng phải tâm con sẽ loạn lên sao? Các con hãy nghĩ xem, có rất nhiều người rất thông minh, làm việc gì cũng rất quyết đoán, “tôi sẽ đi làm việc này ngay lập tức”. Thế nhưng một khi trong lòng họ có chướng ngại: “Mình có làm được không nhỉ? Mình làm thế này có tốt không? Người ta có hiểu cho mình không? Mình làm như vậy, nhỡ đâu người ta lại nghĩ mình có mưu cầu gì với họ thì sao?”. Trong khi mình chẳng hề có mưu cầu gì cả. Một khi có chướng ngại, tâm con liền loạn ngay. Cho nên, điều đầu tiên là đừng tự đặt ra chướng ngại cho tâm mình.