17. Bổn tánh là gốc rễ của tự nhiên
Rất nhiều người khi làm kinh doanh thường dùng tâm giả dối để đối xử tốt với người khác, thực chất là để kiếm được nhiều tiền hơn từ họ. Đứng từ góc độ Phật Pháp, tâm thái này không phải là tu học Phật Pháp chính quy, cũng không phải là lòng từ bi, do đó trong tâm người ấy sẽ không có sức mạnh. Khi trong tâm có được sức mạnh của Phật, người đó mới có thể cống hiến một cách vô tư vô ngã. Sự cống hiến vô tư vô ngã chắc chắn không phải là vì để hành thiện rồi mới đi hành thiện. Hôm nay con làm bất cứ việc gì, nếu không phải vì để diễn cầu danh tiếng mà là sự hành thiện tự nhiên, đó mới là chân thật.
Ví dụ: thấy một cụ già sắp ngã, có người nghĩ mình là người tu Phật nên phải ra đỡ, đây là “vì hành thiện mà hành thiện”, điều này đã là rất tốt rồi. Nhưng có người lại chẳng suy nghĩ gì cả, khi nhìn thấy cụ ngã ngay lập tức trực tiếp chạy đến đỡ cụ dậy. Một bên là giúp đỡ tự nhiên, một bên là giúp đỡ có mục đích; quý vị nói xem cảnh giới của ai cao hơn? Phải hiểu rằng, sự cống hiến chân thật của con người vốn là tự nhiên. Dùng tâm thái tự nhiên để giúp đỡ người khác chứ không vì mục đích cá nhân, đó mới chính là sự giúp đỡ chân thật.
Chân thành cho đi thì có thể thông đạt chân lý của vũ trụ. Ở nhân gian, quý vị khẳng định cái lý của quý vị, tôi khẳng định cái lý của tôi, vậy cái gì mới gọi là chân lý? quý vị dùng chân tâm thì sẽ đắc được chân lý. Chân tâm là gì? Chính là một loại từ bi, bởi vì đó là bản tính của con người. Nếu quý vị dùng tâm lương thiện để nói những lời đó, làm những việc đó, quý vị sẽ đạt được sự viên mãn của Chân Như Thực Tướng ngay trong tâm mình. Tôi nói lời thật lòng với người này, họ có nghe hay không đó là việc của họ, nhưng tôi nói ra đều là sự thật, đó chính là chân lý của vũ trụ.
Con người với con người phải đối đãi bằng chân tâm, thấy người ta đáng thương thì phải biết xót thương, thấy người ta làm sai thì phải từ bi và tha thứ cho họ, đó chính là chân lý của vũ trụ. Mối quan hệ giữa người với người không phải là quan hệ giữa động vật với nhau, mà là cảnh giới sinh tồn của nhân loại vượt xa thế giới động vật, cho nên không thể dùng sự tranh đấu của loài vật để giải quyết những phiền não của nhân gian.
Phải hiểu rằng, “Nhân Pháp lưỡng không, phi không”. “Nhân” là chỉ nhân gian, “Pháp” là chỉ pháp giới. Điều này nghĩa là gì? Con người vốn là không, bởi vì từ khi sinh ra cho đến khi mất đi cũng chỉ là một khoảng thời gian, cuối cùng đều là không. Pháp giới chính là thế giới của chúng ta. Ngôi nhà hôm nay, một ngàn năm sau sẽ không còn; những gì chúng ta sở hữu hôm nay, vài trăm năm sau cũng biến mất. Những gì chúng ta tiếp xúc, những thứ đã ăn hay sử dụng qua,hay như loài khủng long – thời viễn cổ thực sự từng tồn tại, lịch sử có ghi chép, nhưng động vật có sinh có diệt, khủng long theo sự biến thiên của thời đại mà tuyệt chủng, thế là kết thúc.
Cho nên, tất cả những gì quý vị sở hữu trong pháp giới đều là không, chính bản thân quý vị cũng là không – đó gọi là “Nhân Pháp lưỡng không”. Thế nhưng Nhân Pháp lưỡng không, quý vị nói là không hay chẳng phải không? Là không, nhưng lại “phi không”, nghĩa là không phải hoàn toàn hư không. Hiện tại các con đang ngồi đây nói chuyện với Sư Phụ, có phải là không chăng? Không phải. Bởi vì các con đang thực sự ngồi đây, Sư Phụ nhìn thấy các con, các con cũng nhìn thấy Sư Phụ. Thế nhưng, đây không phải là bản chất của sự vật; bản chất cuối cùng đều phải quy về Không.
“Nhân pháp lưỡng không, phi không” chính là bởi vì tâm sinh thì chư pháp sinh. Bởi trong lòng quý vị khởi lên một ý niệm, nên mới có được các pháp, và những vật chất vốn dĩ là “không” ở nhân gian mới sinh khởi..Ví dụ, quý vị có tình cảm đặc biệt tốt với một người nào đó, thì quý vị sẽ sinh ra lòng thương xót và yêu thương đối với họ chẳng phải đó là do chính quý vị tự mình khởi tâm đó sao? Nếu người này không có tình cảm với quý vị, thậm chí không quen biết, thì làm sao quý vị có được tâm ấy?Nếu hôm nay người đó không phải là con của con, thì con sẽ không đau lòng vì họ. Trên đường có biết bao nhiêu đứa trẻ, con cũng đâu có đi bảo vệ chúng, an ủi chúng, mang lại hạnh phúc cho chúng, bởi vì đó không phải là con của con. Những điều này chẳng phải đều từ cái tâm phân biệt của quý vị mà sinh ra đó sao?
“Tâm sinh thì chủng chủng pháp sinh”, chính bởi vì đó là con của tôi, bởi vì bà ấy là mẹ của tôi, bởi vì anh ấy là chồng tôi, bởi vì cô ấy là vợ tôi… cho nên trong lòng tôi nảy sinh tình cảm, và ngay lập tức tôi bị mê mờ, pháp liền sinh khởi. Đợi đến khi người ta mất đi, hoặc có những đứa con ngỗ nghịch, đối đầu với cha mẹ, cuối cùng rời bỏ cha mẹ, kết thúc duyên nợ; tuy rằng đứa trẻ chưa chết, nhưng tâm của cha mẹ dành cho nó đã chết rồi, đây gọi là “Tâm diệt tắc chủng chủng pháp diệt” (Tâm diệt thì muôn pháp diệt). Bởi vì cái tâm của tôi đã diệt rồi, tôi không còn nhớ nghĩ đến nó nữa, nó không còn là con tôi nữa, tôi không bao giờ muốn nhìn thấy nó nữa vì nó đã làm khổ tôi, thế là pháp này cũng diệt mất rồi. Tâm của quý vị chính là vạch phân chia giữa thiện và ác: nếu tâm quý vị khởi thiện, thì tất cả các pháp sinh ra ở nhân gian đều là thiện; nếu tâm quý vị khởi ác, thì tất cả pháp sinh ra ở nhân gian đều là ác. Vạn pháp duy tâm tạo, cái tâm của một người chính là được tạo nên như vậy, mọi khởi tâm động niệm đều từ suy nghĩ mà ra.
Hôm nay tôi thích người này, không thích người kia, đều là do tự mình nghĩ ra cả. Hôm nay tôi hận người này, cũng là do nghĩ ra; nếu có một ngày quý vị nghĩ thông suốt rồi, quý vị sẽ không còn hận họ nữa. Nếu hôm nay quý vị khởi tâm động niệm hận họ hay yêu họ, nhưng qua một thời gian quý vị không còn yêu nữa, quý vị không còn cái tâm ấy nữa, quý vị không còn sự hận thù hay yêu thương đó nữa – đó chính là “Pháp diệt”.
Sư Phụ giảng cho mọi người rằng, phải truy tìm cái "Bản Nhiên" không có ý thức về cái tôi. Tức là phải theo đuổi một cảnh giới siêu việt. Bởi vì có “cái tôi”, con mới sinh lòng ích kỷ; bởi vì có “cái tôi”, con mới thấy thế giới này trở nên thật nhỏ bé; cũng chính vì sự hiện hữu của “cái tôi”, mà con mới xem nhẹ cảm nhận và sự tồn tại của người khác. Nếu không còn cái tôi cá nhân, con chính là một bậc Thánh nhân. Bởi khi ấy trong tâm con chỉ nghĩ đến chúng sinh, không màng đến bản thân, con chính là Bồ Tát.
Ở nhân gian, có nhiều người lao động quên mình, hy sinh vô ngã; chính vì họ đã sớm quên đi bản thân nên trong trí não họ chỉ có người khác. Đó là những người cao thượng, những người đã thoát ly khỏi những thú vui thấp kém và là người có đạo đức – những người như vậy chính là người tu Phật. Ngược lại, nếu một người luôn chấp vào “cái tôi”, người đó sẽ trở thành kẻ ích kỷ. Bởi vì có cái tôi, họ làm gì cũng lấy bản thân làm trung tâm và sẽ nhanh chóng lãng quên những người xung quanh.
Bản nhiên là gì? Chính là khi con làm bất cứ việc gì mà không còn chấp vào “cái tôi”, khi ấy con sẽ khôi phục lại bổn tánh của mình. Tình mẫu tử chính là bổn tánh của một người mẹ. Trong lòng người mẹ chỉ có con cái, bà lo cho các con ăn no, đến cuối cùng chính mình đang đói mà cũng không hay biết, vì bà đã hoàn toàn quên mất bản thân. Sư Phụ đưa ra ví dụ này là muốn nói với các con rằng: một người biết quên đi bản thân chính là người tu Phật; một người quên đi bản thân sẽ tìm thấy bản nhiên của chính mình. Một người mẹ quên đi bản thân để đối đãi với con cái tốt đến vậy, cuối cùng quên cả việc mình chưa ăn cơm, vẫn đang nhịn đói, bởi vì bà nhất định phải để con cái được ăn no trước – đó chính là bản nhiên.
Nếu người tu Phật chúng ta suốt ngày cứ đặt “cái tôi” trong lòng, thì các con sẽ không tìm thấy bản nhiên của mình, như vậy việc học Phật sẽ trở nên vô ích. Giả sử hôm nay con đứng bên ngoài phát sách hay khuyên người khác học Phật, con khuyên bảo hết lời mà người ta không nghe, thế là con bắt đầu than phiền, không vui. Nhưng nếu con không ngừng giảng giải cho họ mà quên đi bản thân mình: họ vui thì con cũng vui; họ không hiểu thì con lo lắng cho họ. Khi con hoàn toàn quên mất chính mình, con mới có thể nhanh chóng độ được họ; bằng không, con sẽ chẳng thể độ được ai cả. Cho nên, người tu Phật khi giáo hóa bằng lời nói hay làm gương bằng hành động đều không được chấp vào “ngã tướng”, mà nhất định phải biết quên đi bản thân mình.