Tập 38. Học Phật chính là điều phục tâm
Sư Phụ giảng cho mọi người rằng: “Chư ác mạc tác là giữ giới.” Bởi vì khi con không làm bất cứ việc xấu nào nữa, không làm bất cứ việc ác nào nữa, thì con đã giữ được giới rồi. “Chúng thiện phụng hành được xem là trí huệ.” Chúng thiện phụng hành được xem là trí huệ, nghĩa là nếu con thường xuyên làm việc thiện, giúp đỡ người khác, thì con nhất định có trí huệ. Bởi vì chỉ người có trí huệ mới nghĩ đến việc giúp đỡ người khác, còn kẻ ích kỷ thì không có trí huệ. Kẻ chỉ nghĩ đến bản thân mình mà không nghĩ đến mọi người xung quanh là người không có trí huệ. Ví dụ, nếu con chỉ nghĩ đến bản thân mình, dù trong kinh doanh hay đối nhân xử thế, con cũng sẽ không nhận được sự giúp đỡ của người khác. Chỉ khi con thường xuyên giúp đỡ mọi người, con mới thực sự là người có trí huệ. Vì vậy, “chúng thiện phụng hành được xem là trí huệ”, tức là có trí huệ. Nếu con không làm bất kỳ việc ác nào, thì con đã là một người trì giới rồi. Không làm bất cứ việc xấu nào, chẳng phải con đã giữ giới rồi hay sao? “Tự tịnh kỳ ý danh vi định.” Ba câu này mọi người phải ghi nhớ thật kỹ. Thế nào gọi là “tự tịnh kỳ ý”? Chính là con phải làm cho ý niệm của mình trở nên rất trong sạch, lời nói ra, việc làm ra nhất định cũng sẽ thanh tịnh. Bởi vì khi một ý niệm, một quan điểm, hay một ý nghĩ xuất hiện, chính con đã tự sàng lọc nó rồi; con đã suy nghĩ để nó trở nên rất trong sạch, khi đó tâm của con mới có thể an định. Ví dụ, khi muốn làm một việc nào đó, con nghĩ: “Việc này mình có thể làm hay không?” Suy nghĩ một chút: “Có thể làm.” Được rồi, tâm liền an định, con không còn sợ nữa, vì chính con biết việc này là có thể làm được. Đó gọi là tự tịnh kỳ ý. Làm cho ý niệm của mình trở nên rất trong sạch thì gọi là tự tịnh kỳ ý. Vì vậy, phải hiểu rõ ý niệm của chính mình, như thế con mới có thể an định được. Ví dụ, con bằng lòng làm việc này, con đã chuẩn bị tư tưởng đầy đủ rồi, tốt hay xấu con đều sẵn sàng gánh vác, thì tâm con sẽ an định. Lại ví dụ, đối với một sự việc nào đó, con có một phương án, hai phương án dự phòng. Đến khi đột nhiên gặp phải chuyện không hay, con sẽ biết mình nên làm như thế nào. Như vậy, tâm của con sẽ an định được.
“Lìa thể thuyết pháp, gọi là thuyết theo tướng.” “Lìa thể thuyết pháp” nghĩa là nếu rời khỏi bản tánh, bản thể của con để nói bất kỳ Phật pháp nào, thì trên thực tế đó là thuyết theo tướng, là chấp tướng. Ví dụ hôm nay Sư Phụ giảng bài cho các con. Nếu rời khỏi bản tánh của các con, rời khỏi Phật tánh của các con mà thuyết pháp, thì đó gọi là lìa thể thuyết pháp, điều đó cho thấy Sư Phụ đang chấp tướng. Ví dụ, rõ ràng một sự việc xét theo bản tánh là đúng hoặc là sai, nhưng khi Sư Phụ giảng cho các con lại căn cứ vào hoàn cảnh cá nhân của từng người mà nói, thì trên thực tế điều đó đã là thuyết theo tướng, nghĩa là Sư Phụ đã chấp tướng rồi. Nếu căn cứ vào con người cụ thể của con để nói về một sự việc, thì đó chính là chấp tướng. Nói ở phạm vi lớn hơn, xét một cách tổng thể: lương tâm rốt cuộc là thiện hay bất thiện? Con người rốt cuộc nên làm việc tốt hay việc xấu? Đây mới là đạo lý quan trọng nhất, chứ không phải dựa vào hành vi cá nhân của một người nào đó để Sư Phụ phán đoán việc này là đúng hay sai. Tuyệt đối không được rời khỏi bản tánh. Vì vậy hãy ghi nhớ: nếu một người rời khỏi bản tánh của mình để thuyết pháp, như Sư Phụ vừa nói, thì đó chính là thuyết pháp trong sự chấp tướng. Lấy một ví dụ đơn giản: Khi con đi cứu giúp một người, trong lòng con nghĩ rằng: “Mình muốn đi cứu người ấy, mình muốn học theo Bồ Tát.” Khi con ngồi bên cạnh khuyên giải người ấy, nói một lúc thì người ấy khóc và nói với con: “Ôi, tôi là người mắc bệnh truyền nhiễm. Hôm nay bạn đối xử tốt với tôi như vậy, đến cứu giúp tôi, tôi thật sự rất cảm kích bạn.” Đang nói chuyện, con lập tức cảm thấy sợ hãi, vì con sợ bệnh của người ấy lây sang mình. Chẳng phải như vậy là chấp tướng sao? Con đã rời xa bản tánh của mình rồi. Con nên hiểu rằng, tuy trong các nguyên tắc chúng ta dùng diệu pháp để cứu người, nhưng nếu trên thân con có Bồ Tát gia hộ, thì khi đi cứu độ người ấy chưa chắc con sẽ bị lây bệnh. Các con có thể hỏi bất kỳ bác sĩ nào: có những người ở rất xa vẫn bị lây nhiễm, trong khi có những người sống cùng người bệnh lại không bị lây. Đó là vì tố chất cơ thể của mỗi người vốn không giống nhau. Ví dụ, có người chỉ cần trúng gió một chút là bị cảm, trong khi có người thể chất tốt thì không dễ bị cảm lạnh. Cho nên học Phật, làm người và cứu người thì nhất định phải không chấp tướng. Không thể vì cô ấy là một cô gái xinh đẹp mà con lại nói chuyện với cô ấy nhiều hơn; cũng không thể vì đó là một ông lão lôi thôi hay một bà cụ mà con không để ý đến họ. Bản thân điều đó đã gọi là chấp tướng. Vì vậy Sư Phụ nói với mọi người rằng, nếu một người mang tâm chấp tướng để hoằng pháp độ chúng, thì sẽ khiến tự tánh mê lầm. Nói cách khác, tự tánh của người ấy sẽ ngày càng mê lầm hơn, bởi vì người ấy không có tự tánh. Bồ Tát cứu người là cứu tất cả mọi người. Nhưng khi các con đi cứu người, các con lại nhìn người mà cứu. Vì người đó có tiền, vì cô gái đó xinh đẹp, hoặc vì chàng trai đó đẹp trai nên các con mới đi độ. Các con nghĩ là không có chuyện đó sao? Ở chỗ chúng ta đây cũng có những cô gái để ý một người nào đó, rồi từ bên ngoài dẫn một chàng trai đến để độ anh ta. Có phải là chấp tướng hay không? Làm như vậy thì các con đã mê lầm rồi. Chỉ cần các con chấp tướng khi độ người thì sẽ sinh mê lầm, và các con sẽ trở nên điên đảo.
“Tất cả vạn pháp đều do tự tánh mà sinh khởi.” Trên thế giới, tất cả các pháp đều bắt đầu từ tự tánh. Tự tánh chính là bản tánh, mà bản tánh chính là lương tâm. Cho nên con muốn cứu người, làm việc thiện, đều phải dùng lương tâm để cảm nhận xem con người con có thật sự có Phật tánh hay không. Nói đơn giản bằng lời bạch thoại, lương tâm chính là bản tánh. Vì sao người ta nói “nhìn đến tận cùng thì thứ đó gọi là lương tâm”? Con còn có lương tri, lương năng hay không? “Lương tri, lương năng” là những gì được phân tách ra từ bản tánh. Vì vậy mọi người phải hiểu rằng: chúng ta phải từ trong tự tánh mà khai ngộ và vận dụng, đó mới là trí huệ chân thật của giới. Ý nghĩa của câu này là phải từ trong lương tri và lương năng chân thật mà khai ngộ chính mình. “Khai ngộ” nghĩa là hiểu ra. Ví dụ, việc này con không thể làm, nếu con làm như vậy con sẽ gây tổn hại cho người khác, thì không nên làm. Cái này con không thể lấy, vì nếu lấy rồi thì người khác sẽ không còn. Chính lương tri và lương năng của con, năng lượng và trí huệ của con khiến con không làm việc đó, thì con người con sẽ dần sinh trưởng Giới-Định-Huệ. “Giới” chính là không làm điều đó. Vì vậy trong đời sống hằng ngày phải khai ngộ để vận dụng. Chúng ta vận dụng như thế nào là điều rất quan trọng.
“Tâm địa vô phi, tự tánh giới.” “Tự tánh vô phi” nghĩa là trong bản tánh vốn không có thị phi. Nếu trong tâm con không còn “cái này là đúng”, “cái kia là sai”, thì con đã giữ giới rồi. Tâm con đối với sự việc này không phán xét là "nó đúng", cũng chẳng nói "nó sai", như vậy chẳng phải con đã giữ được giới rồi sao? Tham là từ đâu mà ra? Nếu con cho rằng việc này là đúng, thì con liền sinh tâm tham. “Lẽ ra là mình lấy”, như vậy chẳng phải con đang tham sao? “Rõ ràng việc này là lỗi của anh ta, tại sao lại đổ lên đầu mình?” — con đã sân hận rồi. “Việc này mình cũng làm được mà, anh ta làm Thủ tướng thì mình cũng làm Thủ tướng được!” — con đã mê lầm rồi. Cho nên tận trong tâm con tồn tại những "thể hỗn tạp" sinh ra từ các hành vi đó, loại thể hỗn tạp này nằm trong tâm khiến tâm con sinh ra bất bình. "Thể hỗn tạp" chính là động lực tạo ra thị phi trong con. Bởi vì trong tâm con có đúng và sai, có thị và phi, cho nên con không thể trì giới, con không giữ nổi giới. Vì vậy Bồ Tát dùng một câu để điểm phá tâm người thế gian chúng ta, gọi là: “Tâm địa vô phi, tự tánh giới.” Ví dụ, chuyện này rõ ràng là người ta làm sai, nhưng con lại nghĩ: “Ây da, mình cũng có lỗi.” Đứa trẻ làm việc này không đúng, nhưng con nghĩ: “Ây da, đây là quá trình tất yếu mà đứa trẻ phải trải qua trong đời.” Thực ra như vậy là con đã giữ giới rồi, con đã giữ được giới đối với tâm sân hận. Vốn dĩ con rất giận đứa nhỏ: “Sao lại phạm lỗi nữa rồi? Sao lại làm sai nữa rồi?” Nhưng bây giờ con cảm thấy không có thị phi, đứa nhỏ không hề làm sai. “Con gái mình có lẽ do còn nhỏ tuổi nên mới gặp phải những chuyện này, mình phải tha thứ cho nó.” Con thấy đó, sự việc vốn không có thị phi, đây chỉ là những va vấp mà đứa trẻ đáng lẽ phải trải qua trong cuộc sống, sau này nó sẽ sửa đổi. Như vậy chẳng phải con đã giữ giới rồi sao? Là chính con tự giữ giới, chứ không phải giới áp đặt lên người đứa trẻ; là do tự bản thân con không còn sân hận nữa. Nếu nhìn con gái mình mà nghĩ: “Tốt nhất là tìm một gia đình có tiền”, cái niệm tham này của con vừa trỗi dậy, con làm sao giữ giới được nữa? Vì con nghĩ “đúng rồi, có tiền là tốt”, chữ “Thị” vừa khởi lên, thì tiếp theo chữ “Phi” cũng sẽ đến. “Đúng rồi, nhất định phải là người có tiền, mình mới gả cho anh ta.” Thế đấy, loại tâm tham này của con đã nổi lên rồi, con làm sao giữ giới đây? Cho nên Bồ Tát dùng một câu đã điểm phá tất cả — “Tâm địa vô phi, tự tánh giới”, chính là trong tâm phải không còn thị phi nữa.
“Tâm địa vô ngại, tự tánh tuệ.” Nếu trong tâm con không có chướng ngại, thì trí huệ nơi bản tánh của con sẽ nở ra như hoa. Lấy một ví dụ đơn giản: con trồng một cái cây trong nhà, nếu phía trên cây bị chặn bởi một viên gạch tường, thì cây đó không thể vươn lên cao, mà chỉ có thể mọc lệch sang bên, bởi vì nó có chướng ngại. Nếu hôm nay con trồng một cái cây, nó “tự tánh vô ngại”, thì nó có thể vươn thẳng lên trên, lại có ánh nắng và nước, nó sẽ sinh trưởng mạnh mẽ. Trí huệ từ đâu mà có? Những đứa trẻ thường xuyên để tâm hồn bị chướng ngại thì sẽ không có trí huệ. Con hãy xem những đứa trẻ tự kỷ hình thành như thế nào? Có phải vì cha mẹ thường xuyên cãi nhau không? Có phải vì từ nhỏ trong nhà thiếu thốn lương thực, nước uống không? Có phải vì từ nhỏ nó gặp rất nhiều chướng ngại, cha không quan tâm, mẹ không chăm sóc, hoặc trong gia đình xảy ra nhiều chuyện không? Đứa trẻ đó không thể kiểm soát bản thân, vì nó không được phát triển tự nhiên. Đó gọi là trong tâm có chướng ngại, thì làm sao có thể sinh ra trí huệ? Con nhìn những người “ngốc” hoặc người bị rối loạn thần kinh mà xem, chính là vì từ nhỏ trong đời sống có chướng ngại nên họ mới không có trí huệ. Nếu một người thuận lợi suôn sẻ, trong tâm không có chướng ngại, thì làm sao lại không có trí huệ được? Người nghĩ không thông thì có trí huệ không? Ba chữ “nghĩ không thông” này nói cho con biết, “nghĩ không thông” thì có trí huệ sao? Người có trí huệ thì có thể nghĩ không thông được sao? Người nghĩ thông được thì có trí huệ, người nghĩ không thông thì là không có trí huệ. Nếu khi còn trẻ con chịu rất nhiều đau khổ, bây giờ con nghĩ thông rồi, nghĩ thông chính là có trí huệ. Rất đơn giản: nếu đến hôm nay con vẫn còn rất nhiều việc nghĩ không thông, thì con chính là không có trí huệ. Nếu một người đến lúc sắp chết mới nghĩ thông: “À, hóa ra đời người chỉ là như vậy, rồi cũng đến lúc duỗi thẳng hai chân là ra đi thôi.” Vừa mới nghĩ thông, con vừa mới có trí huệ, nhưng đã muộn rồi. Ngẫm lại xem, đối với quá khứ: “Sao lúc trước mình không như vậy? Sao mình không buông bỏ sớm hơn? Con xem, thân thể mình chính là do bán mạng làm việc mà ra, tại sao lúc đó mình vẫn cố làm làm gì?” Bao nhiêu tiền đi nữa thì con người cũng chỉ cần một cái giường để nằm, một bát cơm để ăn mà thôi. Hãy nghĩ thoáng một chút đi. Nếu vì con cái thì là sự “nợ nần”, còn vì bản thân thì là ích kỷ. Cho nên vì ai cũng tốt, chỉ là không thể vì bản thân mình. Vì chúng sinh là tốt, còn vì bản thân là không tốt. Nhưng nếu đảo ngược lại mà nói, con vì chúng sinh thì chẳng phải cũng chính là vì bản thân mình sao? Con thử nghĩ xem, một người suốt ngày lo nghĩ cho người khác thì người đó có thể không tốt được sao? Người đó chắc chắn sẽ rất thoải mái, rất vui vẻ. Vì họ đối xử tốt với tất cả mọi người, nên tất cả mọi người cũng đối xử tốt lại với họ, đi đến đâu cũng được chào đón. Trong đời sống, có những người suốt ngày giúp người này, giúp người kia, cuộc sống của họ luôn "hô một tiếng có trăm người ứng thuận". Vì vậy các con nghĩ thử xem thì biết ngay, vừa rồi Sư phụ nói với các con “tâm địa vô ngại, tự tánh tuệ”, nghĩa là trong tâm không có ngu si thì sẽ có trí huệ. Ngu si càng nhiều thì trí huệ càng ít, ngu si càng ít thì trí huệ càng nhiều. Ngu si từ đâu mà ra? Là do nghĩ không thông mà ra, những điều không nên nghĩ lại cứ đi nghĩ. Cứ mong nhìn thấy đồ của người khác biến thành của mình, đó chính là ngu si.