Tập 1. Vô minh phiền não là đạo tràng
Sư Phụ đã từng giảng cho các con nghe về bốn đức hạnh của Bồ Tát là “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Các con có biết vì sao chữ “Từ” được đặt ở vị trí đầu tiên không? Vì sao gọi là “Từ Bi”, chứ không phải “Bi Từ”? Lòng bi mẫn đối với chúng sinh là điều xuất phát từ tận đáy lòng. Nhưng "Từ" là điều mà trước tiên con người phải thực hành. "Hỷ" là tâm hoan hỷ. "Xả" là biết buông bỏ. Người học Phật quan trọng nhất là phải thực hành "Từ, Bi, Hỷ, Xả"; bốn chữ này vô cùng quan trọng đối với chúng ta.
Một khi đã có tâm từ (Tâm từ là trái tim hiền hòa, luôn bao dung, không sân hận, không nổi giận), thường sẽ thấy người khác rất đáng thương. Lòng từ ấy vừa khởi lên, thì tiếp ngay sau đó tâm bi mẫn sẽ xuất hiện. Tâm bi mẫn là cảm nhận được rằng mỗi người sống trên thế gian này đều rất đáng thương. Nếu chỉ có lòng từ thì vẫn còn là biểu hiện bên ngoài, chưa đủ sâu sắc; nếu kết hợp thêm tâm bi mẫn thì đó mới là xuất phát từ tận bên trong. Các con có hiểu không?
"Hỷ" là tâm hoan hỷ. Đối với tất cả chúng sinh đều phải giữ tâm hoan hỷ, hơn nữa còn phải kết hợp giữa lòng từ bi và niềm hoan hỷ. Khi con biết yêu thương người khác, con sẽ cảm thấy thế giới này vô cùng tươi đẹp; bởi vì con luôn yêu thương chúng sinh, nên chúng sinh cũng sẽ yêu thương con; bởi vì con có tâm hoan hỷ, nên con mới có thể làm tốt mọi việc.
"Xả" là gì? Xả chính là biết cho đi, biết buông bỏ. Chúng ta phải đem những điều tốt đẹp của mình chia sẻ cho người khác, đồng thời cũng phải buông xả những điều không tốt nơi chính mình. Nói cách khác, điều tốt cũng phải biết đem ra cho đi, còn điều xấu cũng phải biết buông xả. Cho đi những điều tốt đẹp để làm gì? Là để giúp đỡ người khác. Hãy đem những phẩm chất tốt, tác phong tốt, thói quen tốt của mình chia sẻ hết cho mọi người, để giúp đỡ họ và yêu thương chúng sinh. Còn những điều không tốt là những sai lầm, khuyết điểm, những tật xấu không đáng có, tâm ganh tỵ với người khác, v.v... tất cả đều phải buông xả hoàn toàn.
Bồ Tát thực hành Từ, Bi, Hỷ, Xả, chỉ cần suy nghĩ một chút là sẽ hiểu. Công đức nằm trong sự từ bi, đồng thời cũng nằm trong Phật tánh. Bởi vì đối với Từ, Bi, Hỷ, Xả của Bồ Tát, công đức đều ở trong Phật tánh. Nói cách khác, nếu trong tâm con rất từ ái, rất bi mẫn, pháp hỷ tràn đầy, ngoài ra con còn biết xả, sẵn lòng buông bỏ và cho đi, thì bản chất của người này thực sự là sự thiện lành xuất phát từ chính Phật tánh. Khi đó, người ấy không còn chỉ là đang tu phước nữa, mà là đang tu công đức (làm công đức). Vì vậy, hiện nay Sư Phụ giảng cho các con nghe: Rất nhiều người không biết thế nào là Phật, thế nào là phước, thế nào là công đức. Họ cho rằng chỉ cần làm một việc thiện, giúp đỡ người khác thì đã có công đức. Sư Phụ đã giảng cho các con rất nhiều lần rồi: Toàn bộ công đức đều bắt nguồn từ việc hành thiện xuất phát từ tận đáy lòng. Đáy lòng là gì? Chính là Phật tánh, đó mới thực sự là công đức. Bởi vì tầng sâu nhất trong tâm con người chính là Phật tánh.
Bồ Tát dạy rằng: “Chư phiền não thị đạo tràng, tri như thật cố”. “Chư phiền não thị đạo tràng” có nghĩa là gì? Nghĩa là tất thảy mọi phiền não trên thế gian này đều là đạo tràng giúp con học Phật. Bởi vì nếu không có phiền não, con sẽ không có cách nào sinh ra trí tuệ. Phiền não đến, trí tuệ tức thời sinh ra. Các con nghe có hiểu không? “Tri như thật cố” có nghĩa là con thật sự biết, và điều con biết hoàn toàn phù hợp với thực tế, giống như điều con thực sự làm được. Nói cách khác, tất cả những phiền não mà chúng ta biết đến, tất cả những phiền não mà chúng ta gặp phải, trên thực tế đều là những điều đang tồn tại, là những điều thật sự hiện hữu, Thế nhưng đồng thời, cũng nên nhìn chúng như những thứ không có thực thể cố định, không bền chắc vậy. Những lời này rất huyền diệu, không phải chỉ nghe qua một lần là có thể hiểu ngay được. Hễ có đạo tràng thì sẽ có phiền não phát sinh, vì thế phiền não sẽ liên tục xuất hiện. Thân người ở cõi nhân gian chính là một đạo tràng, nên sau khi học Phật và bước vào con đường tu tập, con sẽ phát sinh rất nhiều phiền não.
Cái gọi là phiền não, bản thân nó là Không. Phiền não vốn dĩ là Không, bản thân phiền não là vô tánh. Tại sao nói bản thân phiền não là vô tánh? Bởi vì bất kỳ phiền não nào khi đến cõi nhân gian, vốn dĩ cũng không có tánh chung, không có một thực thể cố định. Phiền não vốn chập chờn bất định, không có một tự tánh nhất định — tức là mang tính bất định. Hôm nay có phiền não, ngày mai không còn nữa; ngày mai không còn, ngày kia lại xuất hiện, vì vậy nó mang tính bất định. Những gì mang tính bất định thì dường như có mà cũng dường như không, chẳng phải có mà cũng chẳng phải không. Do đó, Sư Phụ hy vọng các con đừng sợ phiền não. Tuy phiền não rất nhiều, nhưng bản thân phiền não là Không. Bởi vì hôm nay con vẫn còn có thể có phiền não, nhưng đến ngày mai phiền não ấy lại không còn nữa. Chẳng phải tất cả chỉ là những chuyện đúng sai, rồi cuối cùng đều trở về trống không đó sao? Có đúng vậy không?
Bởi vì phiền não là vô tánh, vốn dĩ không có định tánh, nên không phải phiền não là điều tất nhiên luôn tồn tại. Tại sao có rất nhiều người sau một tháng, hai tháng lại chẳng còn chút phiền não nào? Họ mỗi ngày cứ thức dậy, ăn cơm, đi làm, chẳng có phiền não gì cả. Đúng không? Đó là vì phiền não không có tự tánh, không có định tánh. Thế nhưng, phiền não có thể huyễn hóa ra từ sự tưởng tượng. Mọi người có biết tưởng tượng là gì không? Có rất nhiều người vốn đang rất tốt, chẳng có phiền não gì, nhưng họ lại tự tưởng tượng ra phiền não. Lấy một ví dụ đơn giản: chồng của các con tối hôm kia về nhà muộn, các con liền tưởng tượng anh ấy đang ở đâu; hôm nay sếp tỏ thái độ không vui với các con, các con lại tưởng tượng rằng ông ấy sẽ đối xử với mình thế nào, để rồi sau đó trong lòng tự cảm thấy khó chịu, đến tối cũng ngủ không ngon. Các con có hiểu không? Đó chính là phiền não huyễn hóa ra từ sự tưởng tượng. Thế nên, bản thân sự huyễn hóa và tưởng tượng ấy cũng chính là Bồ Đề, bởi vì chúng vốn dĩ vô tánh.
Bồ Đề chính là trí tuệ, mà trí tuệ nơi mỗi người cũng vốn là vô định tánh. Nghĩa là gì? Ví dụ, hôm nay đột nhiên con rất thông minh, nghĩ ra được một việc, con có thể xử lý ổn thỏa; nhưng đến ngày mai thì con lại ngốc nghếch lạ thường, không đưa ra được bất kỳ nhận định thực chất nào. Vì vậy, bản thân Bồ Đề cũng là vô định tánh.
Tiếp theo, Sư Phụ sẽ giảng cho các con nghe, trên thực tế phiền não và Bồ Đề không có sự khác biệt. Chao ôi, thoạt nghe, phiền não là thứ không tốt thì làm sao có thể giống với Bồ Đề được? Bồ Đề là gì? Chính là trí tuệ. Đúng không? Vậy còn phiền não thì sao? Bởi vì khi phiền não đến, tâm bồ đề của con cũng sẽ xuất hiện, trí tuệ của con cũng theo đó mà sinh khởi. Các con nói xem có gì khác nhau đâu? Giống như vì con đói bụng nên con mới đi ăn; khi đã có thức ăn rồi thì con sẽ không còn đói nữa. Đúng không? Chẳng phải cùng chung một đạo lý đó sao? Bởi vì con còn khờ dại nên mới bị người ta lừa gạt; bởi vì trước đây con chưa từng va vấp những chuyện này nên mới mắc mưu người ta. Nhưng khi đã từng trải qua rồi, con sẽ biết phải xử lý những việc ấy ra sao — con đã sinh khởi tâm Bồ Đề, để rồi lần sau con sẽ không còn bị lừa gạt nữa. Chẳng phải điều đó đồng nghĩa với việc con đã sinh khởi tâm Bồ Đề rồi sao?
Tâm Bồ Đề là không có định tánh, nghĩa là nó không nhất thiết phải luôn xuất hiện vào một ngày tháng cụ thể, hoặc đến một độ tuổi nhất định mới xuất hiện. Ví dụ, không thể nói rằng đến độ tuổi nào con sẽ gặp rắc rối gì, hay đến độ tuổi nào con sẽ phát sinh một loại trí tuệ nào đó; tất cả đều bất định. Suốt cuộc đời của một con người sẽ không ngừng gặp phải rắc rối, đồng thời cũng không ngừng sinh khởi trí tuệ để vượt qua những rắc rối ấy. Vì vậy, Tâm Bồ Đề và phiền não luôn tồn tại cùng nhau. Cho nên trên thực tế, phiền não và Bồ Đề không có gì khác biệt, đúng như câu “Phiền não tức Bồ Đề”. Đúng không?
Sư Phụ lấy một ví dụ có thể chưa thật sự chuẩn xác: hết tiền thì phải tìm cách đi kiếm; kiếm được tiền rồi lại tiêu đi; tiêu hết tiền rồi lại tiếp tục kiếm. Đúng không? Cho nên kiếm tiền và tiêu tiền vốn dĩ đi liền với nhau. Vì con cần tiền nên con mới đi kiếm tiền. Cũng vậy, vì con cần công đức nên con mới đi làm công đức. Bởi vì trên người con vẫn còn rất nhiều tật xấu, còn rất nhiều nghiệp chướng, con muốn tiêu trừ chúng, nên con mới đi làm công đức. Vì vậy, phiền não chính là đạo tràng. Bồ Đề là đạo tràng, mà phiền não cũng chính là đạo tràng.
Sư Phụ tiếp tục giảng cho mọi người nghe: Vì sao phiền não và Bồ Đề đều là đạo tràng? Các con hãy thử tưởng tượng xem, khi phiền não đến, trong lòng các con có phải sẽ không vui, sẽ sinh ra khúc mắc hay không? Lúc đó, các con bắt đầu học Phật, và trong tâm mình sẽ xây dựng nên một đạo tràng học Phật. Đúng không? Ngược lại mà nói, Bồ Đề cũng là đạo tràng, bởi vì khi các con học Phật rồi thì sẽ luôn có trí tuệ. Đúng không? Các con có thể vượt qua những phiền não ấy. Vậy những Bồ Đề này có phải đều nằm trong đạo tràng nơi tâm các con không? Quanh đi quẩn lại, chính là để các con hiểu rõ đạo lý “Phiền não tức Bồ Đề”. Vì vậy, thực tánh của phiền não và Phật tánh không có sự phân biệt. Thực tánh của phiền não là gì? Chính là đạo lý căn bản chân thực của phiền não, so với lợi ích và Phật tánh không có gì khác biệt. Nói cách khác, bởi vì trước đây các con vốn có Phật tánh, nhưng trải qua sự tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp, những thứ không tốt ấy hiện nay khiến các con trở nên mê mờ, vì thế phiền não mới kéo đến. Đúng không? Khi con đã có phiền não rồi, thì tâm Bồ Đề của con tức là trí tuệ mới xuất hiện. Vậy tại sao lại nói phiền não cũng là Phật tánh? Bởi vì Phật tánh phát sinh từ bản chất nơi tâm. Bản chất đích thực của con người là Phật tính nơi nội tâm sâu kín nhất, và chính những Phật tánh ấy làm cho các con tràn đầy trí tuệ, tức là Bồ Đề. Hiểu chưa? Cho nên, có Phật tánh thì mới sinh khởi được tâm Bồ Đề, sinh ra trí tuệ, từ đó mới có thể vượt qua những phiền não của con.
Vô minh bắt nguồn từ già và chết. Nghĩa là gì? Nghĩa là con không hiểu rất nhiều sự việc trên thế gian, bởi vì con không hiểu rằng cõi nhân gian chính là lục đạo luân hồi: có già, có chết. Khi già con không hiểu; khi chết con cũng không hiểu. Vì vậy, vô minh đến từ già và chết, “giai vô tận cố”. “Giai vô tận cố” nghĩa là một người già đi, chết đi, rồi lại đầu thai; sau đó từ lúc còn trẻ lại đến già, rồi chết, rồi lại đầu thai. Vòng luân hồi là vô cùng tận. “Giai vô tận cố” có nghĩa là tất cả đều không có điểm cuối, nói cách khác, con người sẽ không hoàn toàn diệt vong. Khi một người chết đi, thân xác của họ không còn nữa, nhưng linh hồn họ vẫn tiếp tục tồn tại trong thế giới này, tiếp tục sinh tồn trong không gian bốn chiều này, cho nên họ không chết. Điều đó giống như rất nhiều người đang ngủ vậy, nhưng thực ra họ không hề ngủ. Vì thế, căn bản không có vô minh. Nghĩa là, con người sống trên thế gian này vốn không phải là hoàn toàn không biết. Vốn dĩ con chẳng hiểu gì cả, mà thực ra con cũng căn bản không cần phải hiểu chuyện gì, cũng không cần phải đi tìm hiểu chuyện gì, thì con sẽ rất thanh tịnh. Vốn dĩ thế giới này không có vô minh (vô minh nghĩa là không sáng tỏ, không hiểu biết), cho nên căn bản cũng không hề có cái gọi là "vô minh tận". Bởi vì không có vô minh nên mới sinh ra vô minh. Trong 《Tâm Kinh》 có nói: “Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; vô lão tử, diệc vô lão tử tận.” Nói cách khác, già chết cũng không có điểm kết thúc, bởi vì khi đến cuối cùng, người ta lại đầu thai làm một đứa trẻ. Vậy các con nói xem, làm sao có thể gọi đó là kết thúc được? Có thứ gì sẽ thực sự kết thúc đây?
Thế giới này không có sự kết thúc. Cũng giống như bài 《Ngu Công dời núi》 mà chúng ta đã học trước đây. Ngu Công nói: “Sau khi tôi chết, con tôi sẽ tiếp tục đào; con tôi chết rồi tôi còn có cháu, con con cháu cháu là vô cùng tận”. Thực chất, điều ông ấy nói chính là đạo lý ấy; đạo lý này có thể được nối tiếp không ngừng. Hôm nay người này đã chết chưa? Người ấy chưa chết, tinh thần của người ấy vẫn còn sống giữa chúng ta — người này chính là không hề chết.
Mọi người hãy suy nghĩ xem, khi Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện làm Diệu Thiện Công chúa, cuối cùng Ngài cũng phải viên tịch để trở về cõi trời, nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát có chết không? Không, Ngài sẽ không bao giờ chết. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã để lại cho nhân gian điều gì? Chính là nền Phật giáo vô cùng tốt đẹp này. Ngài có chết không? Thực tế cũng không, chỉ là Ngài đã rời khỏi nơi của chúng ta để đến một nơi khác mà thôi. Lấy một ví dụ đơn giản: nếu các con từ nông thôn chuyển sang nước Úc, thì có thể nói là các con đã rời khỏi nông thôn. Rất nhiều đứa trẻ có thể nói rằng người đó đã chết rồi, bởi vì cả đời chúng không thể gặp lại các con nữa; nhưng trên thực tế, các con đang ở nước Úc, các con đâu có chết.
Sư Phụ vừa nói rằng mãi mãi sẽ không bao giờ hoàn toàn diệt tận, nghĩa là không có cái vô minh này để mà diệt, cũng không có cái lão tử này để mà diệt. Thực ra đối với vô minh, chúng ta cũng không có ý muốn đi tiêu diệt nó, cho nên lão tử chúng ta cũng không thể tiêu diệt được nó. Ví dụ, khi vô minh khởi lên, con diệt trừ nó; nhưng một thời gian sau, tập khí vô minh ấy lại kéo đến, rồi con lại tiếp tục diệt trừ nó. Cái vô minh này chẳng phải cũng giống y hệt như phiền não hay sao? Sinh sinh tử tử, nó mãi mãi không bao giờ cùng tận. Nói cách khác, từ khi sinh ra con đã luôn không hiểu, mãi cho đến khi chết đi con vẫn không hiểu, đó mới gọi là "vô minh tận".