Tập 37. Vô sinh diệc vô tử
Các con có biết việc lớn nhất trong đời người là gì không? Không ai nói ra được. “Tu hành”, đúng không? Cũng đúng mà cũng không đúng. Ở đây Sư Phụ đang nói với các con về đời người, Sư Phụ đang nói về nhân sinh, chứ không phải đang nói riêng về việc tu hành. Thực ra, việc lớn nhất trong đời người chính là cái chết. Vì vậy người ta mới nói sinh tử đều là đại sự. Một người được sinh ra là một việc lớn. Một người qua đời cũng là một việc trọng đại. Như có câu: “Bất tri sinh, yên tri tử” - Không biết về sự sống thì sao biết được cái chết. Đây là lời của vị Thánh nhân Khổng Tử của chúng ta giảng. Con ngay cả việc mình sinh ra như thế nào còn chưa hiểu rõ, thì làm sao biết được cái chết? Một việc trọng đại như vậy, các con đang dùng thái độ nào để đối diện với nó ở nhân gian? Làm thế nào để bản thân có thể không chết? Các con có biết không? Bởi vì con người thực ra sẽ không chết. Sư Phụ nói cho các con nghe: trên thực tế con người sẽ không chết, bởi vì linh hồn của con người mãi mãi tồn tại; chỉ có nhục thân là sẽ chết mà thôi. Vậy làm thế nào để hoàn thành tốt việc lớn nhất của đời người? Hiện nay các con tu tâm, học Phật, niệm kinh, chính là các con đang làm việc lớn nhất ở nhân gian. Chẳng phải dì Châu đang làm việc lớn nhất trên thế giới hay sao? Con có thể khiến bản thân được thăng lên cõi trời, con cũng có thể khiến bản thân rơi xuống địa ngục. Vậy việc lớn này rốt cuộc phải làm như thế nào? Làm tốt được hay không? Đạo lý là như vậy. Hiện nay các con có đang làm việc đó không? Có, đang làm. Tu hành chính là để liễu thoát sinh tử. Tu hành bận rộn suốt ngày là vì điều gì? Là vì để không sinh cũng không chết. “Không sinh cũng không chết” là khái niệm gì? Sau khi con lên cõi trời, thoát khỏi Lục Đạo Luân Hồi, con sẽ không còn sinh tử nữa, vĩnh viễn sẽ không tái sinh nữa, cũng vĩnh viễn không còn phải chết nữa. Đó gọi là tu “liễu thoát sinh tử”.
“Tin thì được độ.” Con vừa tin thì ngay lập tức đã nhận được sự cứu độ, nếu con không tin thì con không thể được cứu độ. Vì vậy, rất nhiều tôn giáo phương Tây và Phật giáo đều có chung một đạo lý. Các con thấy tôn giáo phương Tây thường nói: “Con tin thì sẽ được cứu”, nghĩa là chỉ cần con vừa tin thì con sẽ được cứu. Điều này hoàn toàn giống hệt với Phật giáo giảng. “Tin thì được giải thoát.” Chỉ cần con vừa tin, con sẽ được giải thoát. “Thấy Phật liễu sinh tử, học Phật độ tất cả.” Khi con thấy được Phật, con sẽ liễu thoát được sinh tử của chính mình. Hôm nay các con nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, các con hiểu được đạo lý, thì các con sẽ liễu thoát được sinh tử của mình; chỉ cần các con chăm chỉ tu hành thì đó chính là “thấy Phật liễu sinh tử”. Còn học Phật là để độ tận tất cả chúng sinh — “Học Phật độ chúng sinh”.
Đời người không phải giả, cũng không phải không. Đời người là giả chăng? Không phải. Là không chăng? Cũng không phải. Đó là “Phi hữu phi vô”. Người này có tồn tại không? Có. Không tồn tại sao? Đúng là không tồn tại. Trước khi sinh ra, có người ấy không? Không có. Sau khi sinh ra rồi chết đi, còn có người ấy không? Lại không có. Vậy rốt cuộc người ấy có tồn tại hay không? Khi còn sống thì có. “Phi hữu phi vô” chính là sự tồn tại của cái không tồn tại. Giống như không khí, như vi khuẩn vậy. Những thứ ấy trong không khí không tồn tại sao? Chúng có tồn tại. Con nói chúng tồn tại sao? Nhưng con lại chẳng thể nhìn thấy. Đó là sự tồn tại của cái không tồn tại.Thế giới Tây Phương cũng như vậy. Thế giới Tây Phương Cực Lạc cũng như vậy, nghĩa là nó được huyễn hóa mà thành, là do nguyện lực của A Di Đà Phật tạo nên, là một trạm trung chuyển giúp con thật sự tu thành Phật đạo. Nhưng trạm trung chuyển này vô cùng lợi hại, chỉ cần đến được đây, ít nhất con sẽ không còn luân hồi trong Lục Đạo nữa. Cho nên rất khó để được sinh về đó. Sư Phụ không biết hiện giờ các con có cảm nhận được hay không? Các con đã theo Sư Phụ học Phật pháp nhiều năm như vậy rồi, các con có biết không, nếu một ngày nào đó thật sự chết đi, các con có tin rằng linh hồn mình sẽ đi lên cõi trời hoặc đi xuống phía dưới, giống như thật sự chịu khổ, thật sự hưởng phúc hay không? Điều đó là thật. Các con đừng mang ra đùa giỡn. Sư Phụ đã năm lần bảy lượt nói với các con điều đó là thật. Đừng đợi đến khi chết rồi mới tin những lời Sư Phụ nói đều là thật, lúc đó thì đã quá muộn rồi.
Lấy một ví dụ đơn giản: Người ta nói rằng cầm hộ chiếu Úc đi đến các quốc gia đều không cần thị thực visa, và con tin điều đó. Bây giờ có người nói với con rằng: "Dùng hộ chiếu Úc đến một quốc gia nào đó vẫn phải xin visa." Mặc dù con chưa từng đến quốc gia ấy, nhưng con có cần xin visa hay không? Người ta đã nói cho con biết rồi, vậy con có phải nỗ lực đi làm visa hay không? Đợi khi con đã làm xong visa, đến quốc gia đó cho dù người ta có kiểm tra hay không, trong lòng con vẫn cảm thấy an tâm. Nếu con không có visa mà chạy đến đó, con sẽ bị cơ quan di trú giữ lại. Các con hiểu không? Không phải nói là những việc con chưa nhìn thấy, chưa từng trải qua, con không biết đến thì nó không tồn tại. Đó là một quan niệm sai lầm.Vì vậy, thế giới Tây Phương Cực Lạc vừa là Thực cảnh, vừa là Ý cảnh. Cũng giống như mỗi người chúng ta đang sống trong thế giới này, khi mở mắt ra, nhìn thấy là một cảnh giới hiện thực rõ ràng; khi nhắm mắt lại, chúng ta lại nhìn thấy thế giới này là Ý cảnh. “Ý cảnh” chính là cảnh giới được cấu thành từ ý niệm. Ví dụ, nhiều người ban ngày muốn làm một việc gì đó nhưng thực tế không làm được, đến tối nằm mơ đôi khi họ lại làm được, đấy chính là Ý cảnh của họ. “Thực cảnh” chính là cảnh giới mà con thực sự đang sống trong thế giới hiện thực này.
Vì vậy, phải tu song song Thực cảnh và Ý cảnh. Nghĩa là trong Thực cảnh của chúng ta, khi còn thức vào ban ngày, chúng ta niệm kinh, tu tâm, cũng chính là phải tu sửa Ý cảnh của chính mình vào những lúc bình thường. Ví dụ, mỗi ngày chúng ta đi ngủ bằng với việc chết một lần. Khi ngủ say, không phải nhục thân của con đang hoạt động, mà là linh hồn của con đang hoạt động. Chúng ta chính là tu cảnh giới của linh hồn này, đồng thời lại phải tu cảnh giới hiện thực đang sống nơi nhân gian này, cho nên gọi là “Thực - Ý cảnh tương tu”.
Phải biết rằng vốn dĩ không có sinh cũng không có tử. Thế giới này là vô sinh vô tử. Thực ra chưa từng có chuyện gì thật sự xảy ra cả. Bởi vì Khổng Tử từng nói: “Bất tri sinh, yên tri tử” — không hiểu về sự sống thì làm sao hiểu được cái chết. Các con thử nghĩ xem mình được sinh ra như thế nào? Các con có biết mình từ đâu mà sinh ra không? Đợi đến khi các con sinh ra, hiểu chuyện rồi, thì các con cũng đã trở thành cha, thành mẹ của người ta rồi. Có nhiều người khi sinh ra chỉ có mẹ mà không có cha, vì cha đã mất từ rất sớm. Cũng có người khi sinh ra thì cả cha lẫn mẹ đều không còn nữa, bị bọc trong một chiếc chăn giữa trời tuyết, rồi được người khác nhặt về nuôi dưỡng trưởng thành, vì vậy họ không cha cũng không mẹ. Mỗi người trong các con có ai thật sự biết mình được sinh ra như thế nào không? Đến khi các con nhận thức được mình là một con người, bắt đầu dần dần hiểu chuyện, thì thực ra các con chẳng biết gì cả. Tất cả những gì thuộc về quá khứ các con đều đã quên sạch rồi. Vì vậy: “Vô sinh diệc vô tử, diệc vô lão tử tận, dĩ vô sở đắc cố” — không có gì thật sự đạt được cả. Cho nên phải hiểu rằng ở nhân gian, thực chất không có chuyện gì thật sự xảy ra, đó chính là chân như bản tính. Điều mà chúng ta học chính là bản tính chân thật nguyên sơ ấy.
Chỉ khi nhận thức được con người là sự biến hóa đan xen giữa hư và thực, các con mới có thể tu thành Phật tính. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là chỉ khi hiểu rằng con người là sự biến hóa giữa hư và thực; lúc giả lúc thật, như có mà lại như không. Ví dụ: Hôm nay con cảm thấy dường như mình đã làm một việc gì đó, nhưng nghĩ kỹ lại thì hình như chưa từng làm; hoặc cảm thấy mình đã nói câu này rồi, nhưng suy nghĩ cẩn thận thì hôm nay mình đâu có nói câu ấy. Rất nhiều người không nhận thức được điều này, mà cho rằng thế giới này hoàn toàn là những thứ chân thật hiện hữu. Ví dụ, trưa nay con đã ăn cơm rồi, nhưng nếu bây giờ hỏi con: "Trưa hôm qua con ăn gì?" Con không nhớ rõ, nó là thứ hư ảo, chỉ có cảm giác hình như đã ăn rồi. Cho nên nhiều bác sĩ tâm lý khi điều trị cho bệnh nhân thường hỏi: "Hôm kia anh ở đâu?" Anh không trả lời được. Bác sĩ nói với anh: "Hôm kia anh ở nhà, anh có biết không?" Anh vừa nghĩ lại: 'Đúng vậy, mình đang ở nhà." Nhưng rõ ràng là anh đang ở bên ngoài, tại sao anh lại nghĩ là mình ở nhà? Bởi vì đây là "chứng hoang tưởng", là người khác cho rằng con như vậy, rồi con cũng tự cho rằng bản thân mình là như vậy. Con người đều có căn bệnh này. Vì vậy, con người không biết rằng bản thân vốn là sự biến hóa hư thực nhị huyễn. Mọi người đều tin rằng những thứ có thật là những thứ tồn tại thực tế, nhưng thực tế, chỉ cần đưa một thứ giả tạo vào trong não bộ của họ, họ vẫn sẽ coi thứ giả đó là sự thật. Đó chính là lý do vì sao có rất nhiều người bị lừa gạt và mắc bẫy.
Vì vậy, rất nhiều người chỉ cần dùng suy nghĩ hoang tưởng là có thể giải trừ được nỗi đau của mình. Ví dụ, có một cô gái khi đến bệnh viện tìm bác sĩ tâm lý, cô ấy nói: "Tôi đã bị người ta cưỡng hiếp. Mỗi khi nghĩ đến chuyện đó tôi rất đau khổ." Bác sĩ tâm lý liền nói với cô: "Chuyện đó căn bản là không hề có. Đó là do cháu tự tưởng tượng ra, cháu có biết không? Cháu thử nghĩ xem, cháu nói rằng hôm kia cháu bị cưỡng hiếp, vậy hôm kia cháu ở đâu?" Trước hết hãy nói những điều có thật: "Buổi sáng cháu ở đâu?" "Buổi sáng cháu ở trường." "Bình thường buổi trưa lúc đi học cháu ở đâu?" "Cháu đang ăn cơm." "Buổi chiều thì sao?" "Cháu đang học. Ba giờ chiều tan học." "Đúng rồi. Vậy bác hỏi cháu này cô bé, bình thường buổi tối cháu làm gì?" "Cháu ở nhà." "Vậy thì hôm kia làm sao cháu có thể bị người ta cưỡng hiếp được? Không hề có chuyện đó, căn bản là không hề xảy ra." "Ủa? Sao lại giống như thật vậy?" "Đúng rồi, cháu đã mắc chứng hoang tưởng." Vị bác sĩ cứ như vậy đã giúp cô bé hóa giải nỗi đau trong lòng. Cô cảm thấy rằng chuyện đó là do chính mình tưởng tượng ra, hoàn toàn không có chuyện đó. Nhưng thực chất, cô bé này đã sống trong trạng thái đan xen giữa hư huyễn, giữa hai cõi hư và thực. Tại sao con người lại hay nghe phiến diện, tin mù quáng? Chính là vì lúc thì họ tin cái này, lúc lại tin cái kia; lúc thì hiểu cái này là tốt, lúc lại không hiểu cái này là tốt. Điều này cũng giống hệt như trẻ con vậy. Cũng giống như các con là đệ tử hôm nay theo Sư Phụ học Pháp: "Ôi, con đã hiểu thật rồi, con hiểu tất cả rồi." Nhưng khi về nhà nghe người khác nói vài câu thì lại không hiểu nữa. Vì vậy, con người thường bị cuốn theo sự biến đổi của "hư thực lưỡng huyễn"
Giúp người khác loại bỏ những điều không tốt bằng cách dùng phương pháp giải quyết chứng hoang tưởng, sau đó dùng một khái niệm tốt đẹp khác để lấp đầy tư duy ảo giác của họ. Trong quá khứ các con có biết không? Nếu một người bị bắt giữ, muốn bảo họ thẳng thắn khai báo thì họ sẽ không nói đâu. Nhưng có thể tìm một nhà tâm lý học đến nói chuyện với họ, nói đến cuối cùng họ có thể khóc òa lên, rồi kể ra tất cả những gì mình biết. Ví dụ như bọn bắt cóc khống chế con tin, hắn nói: "Tôi muốn đàm phán với các người." Lúc đó người ta sẽ cử chuyên gia đàm phán đến. Thực ra họ đều là những nhà tâm lý học rất giỏi, khi trò chuyện với kẻ đó, họ có khả năng kiểm soát tư duy của hắn. Phải biết rằng con người sống trong sự biến đổi hư thực lưỡng huyễn, các con mới có thể tìm thấy cái thực trong cái hư. Rõ ràng biết rằng đời người rất ngắn ngủi, nhưng các con nhất định phải tìm được bản tính chân thật trong cuộc đời ngắn ngủi này, thì mới thấu tỏ được bản lai diện mục.
Chân như pháp giới là vô thủy vô chung, không phải là có thủy có chung. Thế nào gọi là Chân như pháp giới? Người thật sự học Phật, tu học đến cuối cùng sẽ đạt đến trạng thái vô thủy vô chung. Bởi vì họ không có sinh cũng chẳng có tử, không có sự bắt đầu cũng chẳng có sự kết thúc. Người học Phật tu hành tốt sẽ mãi mãi sống trong lòng mọi người, họ sẽ không bao giờ thật sự chết đi. Tuy nhục thân của họ đã mất, nhưng linh hồn của họ vẫn tiếp tục ở trên trời làm Bồ Tát. Sư Phụ mong các con đều tu thành như vậy. Mặc dù các con cũng phải bảo vệ tốt nhục thân này, nhưng nhục thân có thể bảo vệ được mấy năm đây? Các con có trẻ đến mấy rồi cũng phải chết, các con có già đến mấy rồi cũng phải chết. Nhưng sau khi tu thành, phải để linh hồn siêu thăng thì mới có thể vô thủy vô chung.