Tập 32. Từng lời Phật dạy, con đều khắc ghi trong tâm
Đạo lý học Phật vốn đều như nhau, nếu nghe được những lời thiện lành tốt đẹp thì chính là biểu hiện của việc đang sống trong Tịnh Độ. Nói cách khác, vào ngày thứ Bảy hay ngày thường khi các con đến đây, những lời nói ra đều là lời thiện lành tốt đẹp: “Sư huynh khỏe không? Tu tốt không? Niệm được bao nhiêu Kinh rồi?” Các con xem, nơi này chẳng phải là cõi Phật độ sao? Nếu như vừa đến liền nói: “Ôi chao, sáng nay tôi đi mua đồ lại bị người ta lừa mất bao nhiêu tiền...” các con nói xem nơi này có thể sạch sẽ được không? Cho nên khi nói chuyện ở Quan Âm Đường nhất định phải là lời thiện lành tốt đẹp, bớt châm chọc người khác. Phải nói lời thiện, nói bằng chánh niệm. Ví dụ như mọi người vừa bước vào liền nói: “Ồ, Dì Châu khỏe không? Lâu rồi không gặp, gần đây dì niệm những Kinh gì vậy?” “Tôi hiện tại rất tốt, từ sau khi niệm Kinh tôi thực sự tốt lên nhiều!” Đó đều là lời thiện lành. Hoặc là: “Sức khỏe của anh thế nào? Phải cẩn thận nhé. Tôi mua cho anh ít đồ này, nhà anh còn thiếu thứ gì không?” Những lời thiện lành tốt đẹp này khiến người ta vừa bước vào liền cảm nhận được sự ấm áp, đây chính là Quan Âm Đường. Nếu như người đến vừa bước vào liền mắng chửi cãi vã, vừa bước vào liền muốn trộm cắp, vừa bước vào liền muốn làm việc xấu, các con nghĩ xem đây còn thành Quan Âm Đường được không? Mảnh đất Phật này còn sạch sẽ được không?
Bố thí Pháp của Phật Bồ Tát. Các con có biết Bố thí Pháp của Phật Bồ Tát là gì không? Chính là để mọi người học Phật tu tâm, khiến cho chúng sinh trong thiên hạ nhận được lợi ích lớn nhất. Ngay cả Quan Âm Đường của chúng ta cũng là nơi Phật Bồ Tát Bố thí Pháp. Khi con vừa nhìn thấy Bồ Tát liền kính ngưỡng sâu sắc, trên thực tế con chính là đang tiếp nhận sự Bố thí Pháp của Bồ Tát. Bởi vì sau khi nhìn thấy Bồ Tát, con sinh khởi lòng tin học Phật; con nhìn thấy Bồ Tát, con có nguyện lực rồi; con nhìn thấy Bồ Tát, con liền cảm động; và rồi con sẽ có hành động. Cho nên đây mới là nhân lành lớn nhất.
Trong tuần trước Sư phụ còn vài câu chưa giảng xong cho các con, hôm nay tiếp tục giảng cho các con nghe — Thiện ác đều không nghĩ, mới chứng thân Bồ đề. Nghĩa là không nghĩ thiện cũng không nghĩ ác, những điều tốt mình không nghĩ đến, những điều ác mình cũng không nghĩ đến, mới chứng được thân Bồ đề. Ý nghĩa là gì? Rất đơn giản. Các con muốn làm một vị Bồ tát, các con phải không nghĩ đến điều tốt, không nghĩ đến điều xấu, cái gì cũng không nghĩ đến thì các con sẽ đạt được trạng thái "không". Lấy một ví dụ đơn giản: Hôm nay các con cãi nhau với người yêu hoặc cãi nhau với chồng, với vợ, thì đừng đi nghĩ về nó nữa, cứ theo sự việc mà luận, nếu không các con lại bị lôi kéo vào một loại tình cảm khác. “Ôi chao, thật đáng thương!” Xong rồi, các con tu tâm lại tu không tốt rồi. Rất nhiều người chính là như vậy. Lúc cãi nhau, lúc mắng chửi thì hận lắm, lúc hận chỉ mong người ta chết đi cho xong; cuối cùng thấy người ta sinh bệnh, trong lòng lại đau xót. Như thế không gọi là Bồ tát. Bởi vì Bồ tát là muốn các con hoàn toàn nhìn thấu thế giới này, nhìn thế giới này đều là "không". Khi đã nhìn thấu là "không", các con đừng nghĩ thiện, cũng đừng đi nghĩ ác — căn bản vốn dĩ không nên cãi nhau, vậy đào đâu ra thiện với ác? Ác các con càng không nên nghĩ. Tại sao thiện lại không nên nghĩ? Những chuyện tốt tại sao không thể nghĩ thử xem? Ví dụ các con thử nghĩ xem: “Ôi chao, người này cũng thật đáng thương”, xong rồi, không phải người ta đáng thương, mà là bây giờ các con đáng thương rồi. Bởi vì các con đã sinh tâm quải ngại, cơm ăn không nổi, giấc ngủ không yên, rắc rối của các con đến rồi. Làm người phải nói đến lương tâm. Rất nhiều người từng đối xử tốt với các con, các con phải đối xử tốt với người ta, lúc người ta gặp nạn phải giúp đỡ người ta, lúc người ta có nỗi khổ phải gánh vác thay người ta. Đừng có lúc bản thân vui vẻ thì tốt với người ta, lúc không vui vẻ thì không thèm tốt với người ta. Phải biết dùng tâm để quan tâm, bất luận là làm người hay làm việc đều như vậy, nhưng đừng đi nghĩ đến tốt xấu. Bởi vì các con muốn học làm Bồ tát (cảnh giới của Bồ tát là vô cùng cao), cho nên phải không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Những điều tốt, điều xấu các con đều không nghĩ tới, mới chứng được thân Bồ đề. Nói cách khác, lúc bấy giờ các con chính là thân của Bồ tát.
"Ngộ giả thức bản tính", chính là người khai ngộ biết được bản tính của mình. Sư phụ làm bất cứ việc gì cũng đều dùng lương tâm để suy nghĩ: "Mình làm vậy có thấy hổ thẹn với lương tâm không? Đây có phải là việc Bồ tát nên làm không?" Đây gọi là "Ngộ giả thức bản tính". Sư phụ đối với những lời "không nghĩ thiện, không nghĩ ác" đã giảng cho các con thì Sư phụ nhìn nhận như thế nào? Khi Sư phụ thấy đồ đệ các con đang tạo nhân, Sư phụ không có cảm giác gì, những gì cần nói Sư phụ đều đã nói cả rồi, đợi đến lúc các con nhận quả báo Sư phụ cũng không có cảm giác gì. Nếu lúc các con nhận quả báo mà Sư phụ cảm thấy "Ây da, họ cũng thật đáng thương", thực ra đây chính là người không có nguyên tắc. Bởi vì nhân quả báo ứng là luật trời, là do tự mình làm ra, mọi chuyện đều do tự mình chuốc lấy, có gì để nói cơ chứ? Không nghĩ thiện, không nghĩ ác — "Ta không đi thương hại họ, sau khi nhận báo ứng họ sẽ tự sửa đổi." Đây gọi là không nghĩ thiện; "Ây da, đáng đời, báo ứng, tự làm tự chịu." Ta cũng không nghĩ vậy, đây gọi là không nghĩ ác. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính là Bồ tát. Con đi thương hại người ta thì chính bản thân con liền trở nên đáng thương rồi.
Cái này và tâm từ bi là tách riêng, là hai khái niệm khác nhau. Sư phụ là đang giáo hóa các con làm sao để chứng đắc thân Bồ Đề. Các con vạn lần chớ trộn lẫn chúng lại với nhau, quá phức tạp rồi, các con phải hiểu rõ mới được. Lấy một ví dụ đơn giản: Đứa trẻ này sức khỏe không tốt, người mẹ rất yêu thương đứa trẻ này. Các con nghĩ xem, nếu người mẹ không thương xót đứa trẻ thì bà ấy có đau khổ không? “Chao ôi, con tôi thật đáng thương” — các con nghĩ thiện rồi phải không? Đây chẳng phải là lương thiện sao? Người mẹ đau khổ rồi. Người mẹ hễ nghĩ đến việc kiếp trước đứa trẻ làm rất nhiều việc xấu, việc ác: “Đáng đời” — đây là nghĩ ác rồi phải không? Ngay cả cái này cũng không được nghĩ, ngay cả việc nó đáng thương cũng không được nghĩ — không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Cho nên “Ngộ giả thức bản tính, mê giả chuyển luân hồi”. Người mê muội mãi mãi xoay vần trong vòng luân hồi không thoát ra được. Lấy một ví dụ đơn giản: Kết hôn một lần, vì thái độ của con đối với hôn nhân không tốt, con mãi không sửa đổi thói hư tật xấu của mình, lần thứ hai kết hôn con vẫn ly hôn, lần thứ ba kết hôn... đây chẳng phải là luân hồi sao? Chịu khổ cũng gọi là luân hồi, hưởng thụ cũng gọi là luân hồi. Không sửa được đâu, thói hư tật xấu của con người rất khó sửa.
Minh tâm phương kiến đạo, kiến tánh tức Như Lai. “Minh tâm phương kiến đạo” có nghĩa là gì? Chỉ khi Con hiểu rõ thì con mới có thể nhìn thấy con đường. Ví dụ hôm nay con biết mình muốn đi đến Canberra, nhưng con không biết đi thế nào. Chỉ khi con hiểu rõ con đường này đi như thế nào, con mới nhìn thấy con đường này chứ. “Kiến tánh tức Như Lai” — đợi đến khi con nhìn thấy bản tính của mình, đợi đến khi con đã hiểu rõ tất cả ân ân oán oán trên thế gian này đều là từ trong các kiếp quá khứ, đợi đến khi con hiểu rõ mọi thứ trên thế gian này đều sẽ tiêu tan giống như đám mây tan biến, cũng chính là lúc con người không còn nữa, thực ra lúc đó con chính là đã nhìn thấy bản tính của mình rồi.
Tâm vốn không phải tâm, không có sáng tối. Bởi vì tâm của con vốn dĩ là không có tâm, cho nên không tồn tại sáng và tối, đây gọi là “Tâm bản phi tâm vô minh ám”. Tâm của con vốn dĩ là không có, bởi vì đây là một linh hồn. Vì có linh hồn nhập vào trong nhục thân của con, cho nên mới sản sinh ra cái tâm này. Dùng lời hiện đại mà nói, nếu như không có chuyện gì xảy ra thì sẽ không thành lập một Bộ chỉ huy nào cả. Ví dụ như nước Úc có thiên tai lũ lụt, thì sẽ thành lập một Bộ chỉ huy phòng chống lũ lụt. Bộ chỉ huy phòng chống lũ lụt này thực chất chính là cái tâm của con. Nhưng nếu như không có sự nhập vào của linh hồn này, tức là nói nếu không có lũ lụt, thì cái tâm này của con không thể thành lập. Bởi vì có linh hồn nhập vào nhục thân của con, cho nên con mới sản sinh ra cái tâm này. Bởi vì nước Úc có lũ lụt, cho nên chính phủ mới nói phải thành lập Bộ chỉ huy phòng chống lũ lụt này, con mới có một cơ cấu như vậy. Cho nên tâm vốn dĩ là không có, tâm vốn không phải tâm, không có sáng tối; tâm thiện tâm ác đều giống như mây nổi che mặt trời, cũng giống như đám mây che khuất mặt trời vậy, một lát sau sẽ tan đi thôi.
“Tính tự như như vô tướng kiến”. Lương tâm và bản tánh của con người ngày nào cũng giống như nhau. Tuy nhiên, có những lúc con không thể nhìn thấy được lương tâm và bản tánh ấy. Lương tâm là thứ được biểu hiện và phát sinh từ những yếu tố nội tại của Phật tính, giống như một dạng cấu trúc phân tử khác được hình thành từ đó. Người ta nói con đã đánh mất lương tâm, điều đó không có nghĩa là Phật tính của con không còn. Bởi vì lương tâm có thể nương theo thói quen của con mà chuyển hóa thành một loại vật chất khác. Ngược lại, cũng có thể thông qua chính Phật tính của bản thân để chuyển hóa lương tâm thành một thứ thiện lành. Thực chất, lương tâm vẫn luôn xoay quanh cái tâm này. Bộ chỉ huy này có lúc nghe theo sự chỉ đạo từ cấp trên, có lúc lại nghe theo những phản hồi từ bên dưới — chính là cái tâm này đang động. Những phản hồi từ bên dưới là khi con sống ở nhân gian, làm sai nhiều điều hoặc thấy mọi người đều làm chuyện xấu, rồi lương tâm của con liền nghĩ: “Mọi người đều làm việc xấu, mình cũng làm theo.” Nhưng nếu nghe được phía trên nói rằng: “Việc này không được làm, việc này không phù hợp với pháp luật”, thì Bộ chỉ huy ấy sẽ không tin theo những lời người bên dưới nói nữa. Vì vậy, cái tâm này luôn xoay chuyển theo bản tánh của con. Do đó, cần phải tâm tính song tu.
“Quang minh phổ chiếu nhữ bất tri”. Ánh quang minh đã phổ chiếu chúng ta rồi, chỉ là chính các con không biết mà thôi. Mỗi ngày các con đều nghe Phật pháp, mỗi ngày các con đến Quan Âm Đường Đài Đông Phương, mỗi ngày các con tiếp nhận sự phổ chiếu của Phật quang mà bản thân vẫn không hay. Các con ngày ngày vui vẻ, nhưng lại không biết vì sao mình vui. Nếu các con không học Phật, không tìm được Chánh đạo, thì các con sẽ mãi mãi, mãi mãi không thể vui vẻ về sau. Nhưng có những người còn không biết thế nào là vui vẻ. Các con hãy thử suy nghĩ xem: khi con vui vẻ, những người xung quanh cũng cảm thấy rất vui, nhưng chính bản thân người trong cuộc lại không tự nhận thấy, vì bản thân không có cảm giác gì cả. Giống như khi con cười vui, bản thân con không có cảm giác; nhưng đợi đến khi con không vui, khi con khóc, con lập tức sẽ có cảm giác rất rõ rệt về chính mình. Chính vì thế, những ngày đau khổ thường dài đằng đẵng khó qua, còn những ngày vui vẻ lại cảm thấy không phải là của mình. Đây đều là triết học cả đấy, Phật Bồ Tát chính là những nhà triết học vĩ đại nhất, các con cần phải chăm chỉ học hỏi.
“Bản tự vô tâm bất dụng giảm”. Bản tính của con người xuất phát từ vô tâm. “Bản tự vô tâm” có nghĩa là khi các con làm việc gì, ngay từ đầu cái tâm này vốn dĩ đã không có, chẳng hề khởi tâm làm, thì các con cần giải thích điều gì? Cần dùng cái gì để hóa giải? Vốn không hề có. Sư Phụ ở phần trước đã giải thích rất rõ cho các con rồi. Ví dụ ban đầu vốn không có lũ lụt, nhưng khi lũ lụt xảy ra mới thành lập bộ chỉ huy này, cái tâm này vốn dĩ không có. Nếu bộ chỉ huy này vốn dĩ không tồn tại, thì các con còn đi giải thích điều gì? Có gì để giải thích đâu? Làm sao các con giải thích được việc này khi mà bộ chỉ huy còn không có. Vì khi không có nước lũ thì bộ chỉ huy này cũng giải tán rồi. Vì thế, rất nhiều người khi làm việc luôn thích giải thích, càng giải thích lại càng tồi tệ hơn.
“Chứng đắc bản tâm bất ngôn đắc”. Khi các con thực sự có được bản tâm này rồi, thì trên thực tế các con không nói là mình đắc. “Bất ngôn đắc” nghĩa là gì? Chính là dù các con không nói thì nó cũng đã đắc được rồi, các con không nói thì cũng đã đắc được rồi; bởi vì bên trong các con có bản tâm, có lương tâm, cho dù các con tự nhủ “Mình đắc được rồi, mình cũng không nói”, thực chất là các con đã đắc rồi. Khi con người biết dùng lương tâm và bản tính để làm việc, các con sẽ có được mọi thứ ở nhân gian.
Cuối cùng, Sư phụ giảng cho các con nghe, mỗi ngày hãy dành ra một đến hai tiếng để tu tâm, buông bỏ hoàn toàn bản thân, không còn quải ngại, nhất định phải kiên trì. Nếu một tiếng mà không buông xuống được, con hãy dùng nửa tiếng, phải hoàn toàn buông bỏ, không nghĩ ngợi bất cứ điều gì. Hiệu quả của việc này còn tốt hơn cả việc đi ngủ. Ví dụ, rất nhiều người nằm trên giường mất ngủ, trong đầu quẩn quanh toàn là những chuyện linh tinh lộn xộn, chất lượng giấc ngủ của những người này không tốt, họ cũng không được nghỉ ngơi như bình thường. Vì vậy, phải hoàn toàn buông bỏ cái tâm, không được có quải ngại, dùng hằng tâm để kiên trì. Bởi vì thân trung ấm sẽ nảy sinh điên đảo vọng tưởng ngay trong sự quải ngại của các con (con người sau khi chết đều phải ở trong giai đoạn thân trung ấm để chờ đợi phán quyết). Khi một người kiên trì mỗi ngày hoàn toàn buông bỏ thân tâm của mình, thì thực ra lúc này hồn phách của con và thân trung ấm sẽ tách rời. Bởi vì khi một người nổi sân ở nhân gian, người đó sẽ kết nối với thân trung ấm. Nếu một người nổi cáu, quỷ ở bên dưới đều biết hết. Nếu một người tu tốt là Bồ Tát, khi nổi cáu thì Thiên đình chấn nộ. Nếu một người rất bình thường, không có duyên phận gì với Phật Bồ Tát, không có đại công đức, đại công lực gì, người đó sẽ hòa làm một với bên dưới. Nếu con hòa làm một với thân trung ấm, con vừa phiền não, vừa quải ngại, thì rất tiếc, con sẽ lập tức nảy sinh ra một loại điên đảo vọng tưởng. Thế nên rất nhiều người khi nổi giận liền nghĩ đến việc đâm đầu chết cho xong, thực chất đây chính là đang nhắc nhở hồn phách của các con tiến vào thân trung ấm. Vì vậy, nhất định phải an trụ tại tâm của mình, đừng để tâm dao động. Phải loại bỏ niệm đầu, dù thế nào cũng không được có ý niệm. Ý thức nâng cao, chính là từ từ nâng cao ý niệm của mình lên. Hãy dùng sức hộ trì của Pháp giới, nói cách khác, chúng ta ở trên thế giới này không có thứ gì khác để dựa dẫm, chỗ dựa duy nhất chính là sức hộ trì. Thế nào gọi là sức hộ trì? Là sự gia trì của Pháp lực. “Ta phải kiên trì, ta phải kiên trì, ta không thể làm như vậy...” Đây chính là sức hộ trì của Pháp giới.